Title_left HỒ SƠ CHI TIẾT Title_right
 
Zoom
 
Nvls_s
Gt_qt
Gt_dp
Gt_dn
Gt_lucky_s
Banner-baochi-2018
Dienluc3 CÔNG TY ĐIỆN LỰC 3

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN


Công ty Điện lực 3 là doanh nghiệp hạch toán độc lập, trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, hoạt động trên địa bàn 12 tỉnh, thành phố miền Trung và Tây nguyên. Nhiệm vụ chính của Công ty là kinh doanh điện năng, quản lý vận hành, quản lý xây dựng các nhà máy diesel, thủy điện có công suất nhỏ, hệ thống lưới điện phân phối từ cấp điện áp 110kV trở xuống, thực hiện các dịch vụ kỹ thuật điện lực như khảo sát, thiết kế, thí nghiệm, sửa chữa, sản xuất, gia công cơ khí; cung cấp, vận chuyển vật tư chuyên ngành điện, tư vấn, xây lắp, thi công các công trình điện, thực hiện các dịch vụ tin học và một số nhiệm vụ khác do Tập đoàn giao.
        Công ty Điện lực 3 - tiền thân là Công ty Điện lực miền Trung được thành lập vào ngày 7.10.1975. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Công ty gồm các cơ sở Điện lực CĐV do chính quyền Sài Gòn xây dựng, của SIPEA do Pháp quản lý, nhà máy điện Quảng  Trị thuộc Chính Phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Nhà máy điện Quảng Bình của Chính  Phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Miền Trung chiếm khoảng 30% diện tích và gần 15% dân số của cả nước. Trước giải ngày đất nước thống nhất, đây là vùng tranh chấp quân sự suốt 30 năm nên chính quyền cũ không xây đựng công trình điện nào có qui mô lớn, chỉ có các cơ sở phát điện bằng diesel nhỏ bé, phân tán phục vụ ánh sáng sinh hoạt đô thị và các nhu cầu quân sự. Đặc điểm cung ứng điện tại miền Trung trong 10 năm đầu từ 1976 đến 1985 là luôn chống đỡ, đối phó trước tình hình thiếu điện ngày càng nghiêm trọng. Trong lúc chưa hình thành một phương án nguồn điện chủ yếu để giải quyết điện cho miền Trung thì tháng 2.1988, Hội đồng Bộ trưởng có quyết định ngừng thi công Công trình Nhiệt điện Ðà Nẵng, càng gây tâm lý căng thẳng vốn có từ trước do thiếu điện phục vụ nhân dân.
        Trước nỗi bức xúc đó, nhiều lần Công ty Điện lực 3  tổ chức hội nghị với Chủ tịch các Tỉnh miền Trung, được  sự ủng hộ của Bộ Năng lượng (cũ), cùng kiến nghị lên Hội đông Bộ trưởng, đề nghị giải quyết nhanh chóng các phương án cung cấp điện cho miền Trung với 3 giải pháp cụ thể đó là: Củng cố và tăng cường nguồn điện diesel hiện có để tạm thời đáp ứng nhu cầu cấp điện trước mắt; Kéo lưới điện truyền tải từ Nam ra, Bắc vào để lấy điện Hoà Bình, Phả lại, Trị An... .cung cấp cho miền Trung; Xây dựng tại chỗ các nhà máy điện có công suất đủ mạnh, trước mắt tập trung vào các công rình thuỷ điện để phục vụ nhu cầu tại chỗ, đồng thời tham gia với lưới Bắc- Nam, làm cầu nối cho lưới điện thống nhất đất nước.
Theo ba giải pháp đó, chỉ trong hai năm, từ 1988 đến 1990, miền Trung đã được lắp đạt thêm 74 tổ mây Diesel  tăng công suất 69.000 kw, các cỗ máy cũ vẫn tiếp tục được duy tu bảo dưỡng. Đường dây 220,110kV Vinh- Ðà Nẵng hoàn thành, đưa điện Hoà Bình vào cung cấp cho 4 Tỉnh: Quảng Bình đến Ðà Nẵng, đưa vào phát điện thủy điện Drayh'linh12MW. Với những cố gắng vượt bậc,  khắc phục khó khăn, CBCNV Công ty Điện lực 3 đã tạo nên bước chuyển biến quan trọng: nếu năm 1976, tổng sản lượng điện khu vực  chỉ  đạt 97,8 triệu kwh thì đến cuối năm đã lên đến 561,3 triệu kwh (tăng 5,74 lần) và đây là một mốc son trong quá trình phát triển của công ty. Vào cuối năm 1990, cơ bản đã chấm dứt tình trạng cắt điện luân phiên ở miền Trung.
Từ năm 1991 đến 1995, hàng loạt các công trình nguồn và lưới điện ở khu vực miền Trung đã được đầu tư xây dựng và hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng. Tháng 1.1992 điện lưới phía Bắc tiếp tục vào Quảng Ngãi; Tháng 4.1992 đóng điện tuyến đường dây 110kV Đa Nhim - Nha Trang; Tháng 8.1993 tiếp tục đưa vào cấp điện thi công thuỷ điện Vĩnh Sơn và tỉnh Bình Định; Tháng 1.1994, đóng điện đường dây 110 kv Nha Trang -Tuy Hoà, đưa điện Đa Nhim cấp cho tỉnh Phú Yên. Đường dây 500kV, một công trình lịch sử của đất nước hoàn thành giai đoạn 1 vào lúc 19 giờ 7 phút ngày 27.5.1994, CBCNV Công ty Điện lực 3 đã thực hiện một nhiệm vụ quan trọng và rất vinh dự là người đầu tiên ấn nút hoà điện hệ thống điện quốc gia tại trạm 500kV Ðà Nẵng đưa điện từ Hoà Bình vào TP.Hồ Chí Minh. Ngày 19.9.1994 trạm 500kV Ðà Nẵng hoàn thành, ngày 12.11.1994 trạm 500kV Pleiku cũng hoàn thành đồng bộ với đường dây 220 kv Qui Nhơn pleiku và trạm 110 kv 1 Pleiku đã cung cấp điện cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.Về nguồn điện, đã đưa vào phát điện thuỷ điện  An Điềm 5,4MW vào tháng 9:1991, thuỷ điện Vinh Sơn 1 66MW vào tháng 12.1994, khởi công thuỷ điện Yaly 720MW vào tháng 11.1993.
Đầu năm 1995, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam  được thành lập, một số đơn vị thuộc Công ty Điện lực 3 được tách ra trực thuộc EVN. Các đơn vị này đã tích cực triển khai các công việc theo nhiệm vụ được giao. Từ năm 1995 đến 1999 đã hoàn thành đường dây 220, 110  kv Pleiku - Buôn Mê Thuột, đưa vào vận hành đường dây 3SKV cấp điện cho Đắc Lắc, là tỉnh cuối cùng được nhận điện quốc gia, phát triển thêm các  trạm  220~110kV  mới tại các địa phương, cải tạo, bổ sung máy biến áp, nâng công suất tại các trạm 500kV Ðà Nẵng, Pleiku cũng như tại các trạm 220,110 kv hiện có hầu đáp ứng nhu cầu phụ  tải ngày càng tăng mạnh. Đầu năm 1999, đưa vào vận hành các đường dây và trạm 220kV Nha Trang, Trông Búk nâng cao chất lượng điện cung  cấp cho Đắc Lắc và Khánh Hoà. Thuỷ điện Sông Hinh khởi công tháng  11 1995 và phát điện vào tháng 4.2000, thủy điện Yaly đưa vào vận hành tổ máy số 1, số 2 trong năm 2000.
Cũng từ năm 1995, theo sự phân công của EVN, nhiệm vụ của Công ty Điện lực 3 là chuyên sâu lĩnh vực  phân phối, kinh doanh điện năng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Công ty đã tìm mọi biện pháp để tăng  sản lượng điện thương phẩm, tăng doanh thu bán điện, giảm chi phí sản xuất, giảm chỉ tiêu tổn thất điện năng. Ngoài các biện pháp tăng cường quản lý kỹ thuật và các biện pháp đồng bộ khác, Công ty đã được Chinh phủ chấp thuận cho vay vốn của các tổ chức nước ngoài để cải tạo, nâng cấp lưới điện các thành phố và một số thị xã. Đến nay, dự án cải tạo lới điện thành phố Qui Nhơn đã hoàn thành, các dự án cải tạo lưới điện giai đoạn 1 cho các thành phố Huế, Ðà Nẵng, Nha Trang sẽ hoàn thành trong năm 2000. Các dự án khác đang triển khai các thủ tục và công tác chuẩn bị để khởi công xây dựng sau năm 2000. Lưới điện phân phối liếp tục mở rộng về các huyện, xã nông thôn, miền núi. Nếu năm 1991, điện chỉ phục vụ chủ yếu cho các trạm bơm nông nghiệp và một số ít hộ gia đình nông thôn ở vùng ven thành phố, thị xã, thi trấn thì đến nay, 100% huyện trên đất liền, xấp xỉ 80% số xã và hơn 65% số hộ nông thôn miền Trung đã có điện. Một số địa phương phát triển điện nông thôn tốt như tỉnh Bình Định, Khánh Hoà đã cơ bản hoàn thành và  vượt yêu cầu của Trung ương Đảng, Quốc Hội, Chính phủ đề ra. Hiện nay,Công ty đang tích cực triền khai dự án năng lượng nông thôn từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới khoảng 38 triệu đô la Mỹ và 217 tỷ đông vốn đối  ứng trong nước để đầu tư điện cho 220 xã trong ba năm 2000- 2003, đã tiếp nhận thí điểm bán điện đến tận hộ dùng điện ở nông thôn cho 21 xã. Ngoài ra, theo chủ trương của chính phủ, Công ty đang phối hợp với các địa phương tích cực triển khai các thủ tục cần thiết để tiếp nhận quản lý lưới điện trung áp nông thôn .
Một chủ trương lớn của ngành đồng thời là trọng tâm công tác mà thời gian qua Công ty Điện lực 3 và các đơn vị trong công ty đang tích cực triển khai thực hiện và đạt được một số kết quả đáng khích lệ là việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ, cải thiện mối quan hệ giữa ngành điện và khách hàng dùng điện. Trước đây do cơ sở  vật chất điện lực còn quá thiếu thốn, khả năng tài chính quá eo hẹp nên Công ty không đủ nguồn và lưới điện để thỏa mãn yêu cầu phát triển phụ tải, cấp công tơ cho khách hàng phát triển mới. Đồng thời, do tâm lý chung của các ngành mang tính độc quyền trong thời bao cấp còn khá nặng nề nên việc khách hàng cần lắp đặt mới trạm biến áp, công tơ đã không được đáp ứng  đủ. Khách hàng phải  liên hệ với rất nhiều đầu mối, thủ  tục rườm rà, đi lại nhiều lần, thời gian chờ đợi quá lâu, thậm chí nhiều hộ phải dùng chung 1 công tơ, phải bỏ tiền ra để mua  công tơ, thùng công tơ... đã gây  nên những nỗi bất bình, những phiền phức không đáng có. Nhận thức  rõ yêu cầu bức  bách có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triền của  ngành điện, hơn ba năm qua tất cả các Điện lực thuộc Công ty đã  có những bước chuyển biến hết sức to lớn trong tinh thần thái độ phục vụ, trong lề lối, phong cách và qui trình giải quyết công việc nhằm  đáp ứng ngày càng tốt hơn, hoàn hảo hơn các nhu cầu của khách hàng dùng điện. Hiện nay, tại tất cả các Điện lực, các Chi nhánh điện thuộc Công ty đều bố trí người có trách nhiệm, có trình độ, thái độ giao tiếp văn minh lịch sự, sẵn sàng trả lời mọi yêu cầu của khách hàng về  những vấn đề liên quan đến cung cấp điện, có đầy đủ các bảng, biểu hướng  dẫn về thủ tục, về giá điện Khách hàng có nhu cầu phát triển phụ tải mới, lắp đặt mới hoặc tách công tơ riêng chỉ cần liên hệ với một đầu mối gửi giấy đề nghị cấp điện và sau khi nộp tiền thì không quá 5-7 ngày đối với công tơ 1 pha,10 ngày đối với công tơ 3 pha, công trình điện của khách.. hàng sẽ hoàn thành và được sử dụng điện công tơ và hộp công tơ do ngành điện cung cấp. Ngoài ra, Công ty đã và đang chỉ  đạo triển khai việc lắp  đặt công tơ trọn gói theo một giá thống nhất trong từng khu vực. Đã thiết lập hệ thống điện thoại nóng tại tất cả cục Điện lực, các chi nhánh điện, trạm điện. Một số Điện lực đã thiết lập được tổng đài riêng hoặc có số điện thoại với ba chữ số dễ nhớ, bố trí lực lượng trực thường xuyên tại các điểm trực, phối hợp với Bưu Điện sở tại triển khai lắp đặt hộp thư thông tin riêng hoặc kết hợp, cung cấp thông tin cho địch vụ 108 của Bưu Điện để trả lời các thắc mắc của khách hàng, xử lý nhanh các sự cố lưới điện nhằm  cung ứng điện trở lại kịp thời. Hàng năm, các Điện lực đều tổ chức Hội nghị khách hàng để báo cáo tình hình phục vụ điện, tiếp thu những ý kiến phê bình, góp ý của khách hàng nhằm có những  biện pháp sửa đổi, cải tiến, đáp ứng  tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng dùng điện. Vào đầu tháng 7/1999, Giám đốc Công ty đã gởi 100.000 thư đến các khách hàng dùng điện dể xin ý kiến đóng góp về tinh thần thái độ phục vụ của CBCNV trong Công ty và đã nhận được nhiều thư góp ý để Công ty xem xét tiếp tục tục hoàn thiện mình, nhằm phục vụ điện ngày càng tốt hơn. Cùng với sự tăng nguồn, tăng lưới và tăng sản lượng điện cung cấp, các công tác hậu cần như khảo sát thiết kế, sửa chữa cơ khí thí nghiệm, áp dụng tin học vào quản lý, hệ thống thông tin liên lạc .... cũng trưởng thành nhanh chóng, đảm đương được nhiều nhiệm vụ quan trọng, nặng nề.
        Về tổ chức và lực lượng lao động cũng phát triển phù hợp với cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị. Hầu hết CBCNV, đặc biệt là bộ phận kỹ thuật, cán bộ quản lý đã nỗ lực học tập rèn luyện đề vữmg vàng đáp ứng nhiệm vụ mới đòi hỏi nhiều tập thể, cá nhân đóng góp nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật có giá trị trong 10 năm từ 1990 đến nay, toàn Công ty có hơn 3000 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật làm lợi hơn 24 tỷ đồng. Nhiều công nhân diesel, kỹ sư, cán bộ quản lý được đào tạo để chuyển nghề phù hợp hoặc nâng  cao chuyên môn, nâng cao trình độ chính trị. Công ty dành một phần kinh phí để hỗ trợ các địa phương đào tạo hơn 2.267 công nhân quản lý điện nông thôn... Công ty cũng đã xây dựng ban hành quy chế phân cấp quản lý điều hành, các qui chế tập thể, các qui trình, qui phạm kỹ thuật nghiệp vụ, nội qui lao động, xây dựng nề nếp làm việc, quan hệ công tác ngày càng chính qui, nghiêm túc, tự giác. Nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất công tác xã hội, đền ơn đáp nghĩa thường xuyên được duy trì với sự tham gia của đông đảo CBCNV.
Những năm qua, Công ty Điện lực 3 liên tục hoàn thành tốt các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch, bảo toàn và phát triển  nguồn vốn được giao, SXKD có lãi, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước. CBCNV có việc làm ổn định, đời sống, điều kiện làm việc từng bước cải thiện. So với năm 1990, năm 2000 sản lượng điện ước thực  hiện 2.431 triệu kwh, tăng 3,8 lần, điện thương phẩm ước đạt 2.200 triệu kwh, tăng 4/6 lần, tổn thất điện năng 9,7% giảm 10,3%, doanh thu tăng 11 lần, nộp ngân sách tăng 6,4 lần. Qua chặng đường phấn đấu, được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của Trung ương Đảng, Chính  phủ, Bộ Năng lượng  (cũ), Bộ Công nghiệp, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo các địa phương, sự  ủng hộ tận tình của các cơ quan thông tin đại chúng...giờ đây cơ sở vật chất kỹ thuật điện lực miền Trung được tăng cường mạnh mẽ, có đường dây và  hai trạm biến áp 500 kv Ðà Nẵng, Pleiku, có nguồn thuỷ điện Vĩnh Sơn, Sông Hinh đã khai thác, thuỷ điện Yaly sắp hoàn thành toàn bộ là các nguồn điện mạnh tại chỗ, hệ thống lưới điện truyền tải, phân phối nối liền và toả khắp các tỉnh,các huyện, các địa Phương.
Bài toán Điện lực miền Trung được giải quyết tương đối trọn vẹn, tình hình cung cấp điện được thay đổi cơ bản  từ chỗ thiếu hụt, hạn chế, thiếu ổn định, bị động chuyển sang tương đối đầy đủ, thoả mãn, chủ động, chất lượng đảm bảo. Nguồn năng lượng sẽ là động lực thúc đẩy kinh tế miền Trung phát triển mạnh mẽ góp phần tích cực vào việc đảm bảo an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp CNH, HĐH các địa phương miền Trung.

Nhìn lại chặng đường 25 năm qua của Điện lực miềnTrung, những khó khăn và những thành quả đạt được những người làm điện miền Trung có  nhiều điều suy  ngẫm, rút ra nhiều bài học bổ ích:

CÁC BÀI HỌC BỔ ÍCH CỦA ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG

 

1 . Xác định được quy hoạch phương hướng, bước đi phù hợp  là nhân tố quan trọng quyết định để đưa đến kết quả tốt đẹp hôm nay. Điểm xuất phát của Điện lực miền Trung rất thấp và yếu kém. Trước hết, cần thấy rõ thực  tế khó khăn và phải chấp  nhận thực tế đó để có quyết tâm bền bỉ, có phương hướng, biện pháp phù hợp để vươn lên. Miền Trung đã trải qua một thời gian dài chiến tranh ác liệt nên chưa được đầu tư nhiều, không có nguồn điện lớn, không có lưới điện thống nhất. Khoảng 10 năm sau ngày thống nhất đất nước, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà sự đầu tư của Nhà nước vào Điện lực miềnTrung rất ít nên đã có khoảng thời gian dải miền Trung luôn trong tình trạng yếu kém và tồn tại một khoảng cách khá xa với các điện lực trong nước. Quá trình phát triển của điện lực 25 năm qua ở miền Trung, trong thời kỳ đầu tuy có quy hoạch nhưng cũng có nhiều điều thay  đổi, chắp vá trong chủ trương cũng như trong chi đạo thực hiện: Việc đánh giá năng lực và nhu cầu điện lực của miền Trung cũng như của cả nước sau khi mới giải phóng miền Nam đã không được tiến hành chính xác, thực sự khoa học. Miền Trung thiếu điện liên tục trong những năm của thập niên 80, nhưng nhiều lần làm quy hoạch, nghiên cứu xây dựng  nhà máy điện đều gặp khó khăn là đánh giá phụ tải thấp, xây đựng nhà máy điện sợ không ai dùng, ngược lại đã nhiều lần nghiên cứu xây dựng các cơ sở công nghiệp có nhu cầu dùng điện lớn thì lại vướng do không có nguồn điện. Do thiếu nghiên cứu nên việc đầu tư nguồn thiếu hiệu quả, nhiều tổ máy Diesel đã được điều động từ miền Nam ra miền Bắc để rồi sau một  thời gian lại tháo gỡ vận chuyển vào lắp ráp ở miền Trung. Quá trình di chuyển thiết bị hư hỏng, phụ tùng thất thoát công suất sử dụng suy giảm, chi phí xây dựng cao mà hiệu quả thấp. Sau ngày thống nhất đất nước, hầu như đã có ngay chủ trương khôi phục một số nhà máy  nhiệt điện nhưng đều thực hiện dở dang  rồi hủy bỏ, dẫn đến 1 lãng phí trong lúc miềnTrung đang thiếu điện. Sau giải phóng, trong khi cả nước tiến hành lập tổng sơ đồ giai đoạn 1 phát triển điện lực thì miền Trung vẫn còn ngoài cuộc cho đến tổng sơ đồ giai đoạn 2 miền Trung mới được đề cập. Miền Trung có tiềm năng thuỷ điện rất lớn, Nghị quyết Đại hội Đảng lân thứ IV đã chỉ rõ: Tập trung xây dựng các thuỷ điện vừa vàonhr ở miền Trung và Tây  Nguyên,  Nghị  quyết đã có nhưng triển khai thực hiện còn nhiều lúng túng, chậm chạp : Trong một thời gian dài, mỗi tỉnh, mỗi địa phương đều có nghiên  cứu một công trình thuỷ điện nhưng đứng về góc độ toàn miền , chưa xác định được công  trình thuỷ điện ưu tiên để tập trung đầu tư. Tại Hội nghị Chủ tịch UBND các tỉnh miền Trung, đã xác định 3 giải pháp cơ bản cho bài toán Điện lực miềnTrung, trong các nội dung quá trung ấy, việc thống nhất xác định công trình thuỷ điện để ưu tiên đầu tư có ý nghĩa rất lớn. Việc thực hiện từng bước đồng thời ba giải pháp đó là những bước đi ban đầu vững chắc nhằm khắc phục tình trạng thiếu điện triền miên ở miền Trung vừa là cơ sở nền tảng để phát triển một hệ thống điện khá hoàn chỉnh như bây giờ.
2. Tinh thần đoàn kết, gắn bó yêu nghề và trách nhiêm đối với công việc, sự tin cậy động viên mọi  đối tượng lực lượng CBCNV, quan tâm đào tạo đội  ngũ CBCNV. Sau giải phóng, Điện lực miền Trung được điều động bổ sung cán bộ từ miền Bắc vào đồng thời tiếp nhận và tiếp tục sử dụng  một đội ngũ công nhân nhân viên cũ tại chỗ. Ðoàn kết Bắc - Nam, đoàn kết cũ mới, bình đẳng và không phân biệt địa phương quê quán điều đó có  ý nghĩa hết sức quan trọng. Tại cơ sở điện lực có mặt đội ngũ những công nhân  lâu  năm, cần cù sáng tạo đôi bàn tay nghề tuyệt vời kết hợp với tấm lòng, lương tâm người thợ đã cần mẫn ngày đêm sửa, cải tạo phục hồi làm sống  lại bao nhiêu  máy móc già cỗi chủ động bảo đảm duy trì dòng điện phục vụ quốc kế dân sinh. Bên cạnh đội ngũ công nhân cũ, những người con miền Nam  năm xưa đi tập kết nay được trở về. Một thế hệ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trẻ từ miền Bắc vào, những kỹ sư điện cơ, kinh tế vừa tốt nghiệp khoá đầu tiên của trường ĐH Bách Khoa Ðà Nẵng đã xung phong ở lại để tăng cường nhân lực cho Điện lực miền Trung. Đây là một lực lượng cán bộ trẻ, năng động được đào tạo chính quy bài bản, lại được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ nên  đã đóng góp không nhỏ công sức vào sự nghiệp phát triển ngành điện trên toàn miền.  Trong thời gian sau này, Công ty tiếp tục chú trọng việc giáo dục nâng cao trình độ chính trị đi kèm với bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, xây dựng các tập thể điển hình và các cá nhân đầu tầu gương mẫu mà trước hết trong đội ngũ cán bộ  lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên gia giỏi và  công nhân bậc cao. Đó yếu tố cần để đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ chính trị của toàn Công ty trong thời gian vừa qua.
3. Tranh thủ sự thông cảm đồng tình ủng hộ của cấp trên, của lãnh đạo và nhân đần các địa phương, của các đơn vị bạn trong và ngoài ngành, của các tổ chức quốc tế, công ty nước ngoài, của các cơ quan thông tin báo chí Trung ương, địa phương. Ngoài trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp của Bộ Điện và Than, Bộ Điện lực, Bộ Năng lượng, Bộ Công nghiệp, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam  trước đây, Bộ công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam bây giờ, Công ty luôn tranh thủ sự thông cảm  hiểu biết đồng tình ủng hộ của các ngành, các địa phương cũng như của các Bộ, ngành Trung ương như Bộ Kế  hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các cơ quan quản lý ở Trung ương, các cơ quan thông tấn báo chí. Đối với những đặc thù của điện lực nói chung, những khó khăn của Điện lực miền Trung nói riêng đó là một nhân tố không  thể thiếu được và thực tế có tác dụng to lớn trong thời gian qua. Đặc biệt là mối quan hệ với cấp uỷ chính quyền và nhân dân các địa phương miền Trung rất gắn bó và có vị trí quan trọng.
        Là một đơn vị thuộc ngành Trung ương do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (Tổng Công ty Điện lực Việt Nam cũ) quản lý, Công ty Điện lực 3 cùng các Điện lực, các Xí nghiệp  Trung tâm đóng trên địa bàn các tỉnh đều có quan hệ trực tiếp, được thừa hưởng những thành quả, cùng chia sẻ những khó khăn trong quá rình phát triển  kinh tế xã hội của các địa phương. Và cũng đã có những đóng góp tích cực vào các lĩnh vực kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn, khắc phục khó khăn, cố gắng hết mức để cung cấp điện, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của địa phương. Đó là  nhiệm vụ chính trị, mục tiêu cuối cùng của toàn Công ty, của các Điện lực, các Chi nhánh điện. Cấp uỷ, chính quyền và nhân dân các địa phương vừa yêu cầu phục vụ, vừa động viên giúp đỡ tạo điều kiện hoạt động cho các  đơn vị Điện lực, đó là quan hệ tốt đẹp và hiệu quả nhất để cùng nhau phát triển đi lên. Rất nhiều công trình điện nhà máy, đường dây điện do các địa phương, quân đội bỏ vốn đầu tư xây đựng và chuyển giao cho ngành điện quản lý vận hành như Diesel Ngự Bình, Diesel sân bay Ðà Nẵng, trạm điện Cù Hanh công  trình thuỷ điện Vĩnh Sơn, thuỷ điện Drayh'linh. Tất cả những đóng góp quý báu, đầy thiết thực đó đã để lại nhiều ấn tượng đẹp với điện lực miền Trung  trong những năm miền Trung đầy gian khó. Trong thời gian sau này, Công ty chuyển đần sang nhiệm vụ  kinh doanh điện năng nhưng trong  điều kiện nguồn và lưới điện có lúc có nơi còn bị hạn chế, Công ty tiếp tục chỉ đạo các Điện lực trên điạ bàn các tỉnh thành phố miền Trung  luôn xác định gắn chặt việc thực hiện nhiệm vụ SXKD của đơn vị với  sự phát triển KTXH của các địa phương. Trên cơ sở định hướng phát triển của ngành và những yêu cầu về phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và điện cho tiêu dùng sinh hoạt của địa phương, Công ty đề ra các mục tiêu đầu tư dài hạn và xây dựng kế hoạch SXKD phù hợp cho giai đoạn từng năm 5 năm,10 năm, để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu dùng điện cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp, các công trình đang thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các công trình điện phục vụ kinh doanh dịch vụ ánh sáng sinh hoạt và đáp ứng yêu cầu an ninh quốc phòng.
Để làm tròn trách nhiệm, nhiệm vụ của mình, Công ty tiếp tục giữ vững mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ có những thông tin kịp thời đến các đ/c Lãnh đạo, các Sở, Ban ngành các địa phương đề nghị phối hợp, tạo điều kiện giúp đỡ Công ty. Đồng thời chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt các yêu cầu của địa phương. Chính mối  quan hệ này vừa là động lực vừa là điều kiện để Công ty Điện lực 3 liên tục hoàn thành nhiệm vụ SXKD  năm sau luôn cao và toàn diện hơn năm trước. Bên cạnh đó, việc dựa vào khả năng của toàn ngành, tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các công ty, đơn vị bạn trong và ngoài ngành đặc biệt là Công ty Ðiên lực 1, Công ty Điện lực 2, trong thời kỳ Công ty còn duy trì phát điện chủ yếu bằng diesel, giá thành cao, tiền bán điện không đủ bù đắp các chi phí, là một truyền thống tối đẹp. Tranh thủ sự giúp đỡ, tư vấn của các tổ chức quốc tế, các Công ty nước ngoài, sự giúp đỡ tuyên truyền, động viên kịp thời của các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương, địa phương tất cả đã tổng hợp thành một điều  kiện cần có để Điện lực miền Trung tồn tại và phát triển đi lên.
 4. Trong điều kiện vốn liếng của Công ty còn hạn chế nhưng nhu cầu đầu tư rất  lớn, cần  phải nâng cao năng lực quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất chi phí đầu tư đảm bảo hoạt động  SXKD có lãi, ổn đinh việc làm và thu nhập cho CBCNV trong  toàn  Công  ty, cải thiện mối quan hệ với  khách  hàng dùng điện, ngăn ngừa tiêu cực, tham nhũng thì việc phát huy nội  lực  bằng tính đoàn kết chủ động sáng tạo của tập thể đơn vị và từng cá nhân rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Bằng các phong trào thi đua sôi nổi, liên tục, bằng sự động viên chính xác, kịp thời đã bật lên nhu cầu sáng tạo, cống hiến nhiều hơn  trong  đội ngũ CNVC. Từ đó, chủ động khắc phục khó   khăn, suy nghĩ tìm ra những giải pháp có hiệu  quả. Đây cũng là  một  bài học quí giá  rút ra được qua thời gian 25 năm qua. Sau năm 2000, nguồn  điện tại chỗ của  khu vực miền  Trung  được  tăng cường đáng kể. (Sông Hinh- 2. x35MW, Yaly- 4 xi.80 'MW...) đảm bảo đủ  nguồn cho việc phát triển phụ tải của khu vực. Lưới điện truyền tải và phân phối tiếp tục được mở rộng, nâng cấp đảm bảo ổn định việc cấp điện cho khách hàng.
Kinh tế các nước trong khu vực sau cuộc khủng hoảng kinh tế đã  phục  hồi và tăng  trưởng, Kinh tế Việt Nam có nhiều dấu hiệu khả quan, luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài có nhiều cải tiến, sửa đổi, tạo điều  kiện thúc đẩy phát triền  kinh tế  trong  nước cũng như thu hút đầu  tư nước  ngoài. Phụ tải tiếp tục tăng trưởng đặc biệt nhu cầu sử dụng điện tại các  khu công nghiệp. Ở miền Trung, dự báo nhu cầu này sẽ tăng mạnh vào các năm 2003 đến 2005. Tuy có nhiều thuận lợi nhưng điện miền Trung cũng sẽ gặp lắm khó khăn, hàng năm phải đối mặt với thiên tai khốc liệt, gây thiệt hại lớn về tài sản thiệt hại do gián đoạn cung cấp điện. Việc đầu tư tiếp nhận, quản lý và sửa chữa lưới điện nông thôn trong những năm tới vẫn là vấn đề khó khăn, phức tạp. Cộng ty sẽ phải tốn nhiều công sức và tập trung nhiều nguồn lực để  đầu tư phát triển, nâng cấp nguồn lưới điện, đầu tư cải tiến công tác quản lý theo hướng ngày càng hiện đại hơn, mới có thể đáp ứng được yêu cầu  ngày càng cao của khách hàng sử  dụng điện.
Trên cơ sở những định hướng nêu trên. Công ty đã đề ra các giải pháp cụ thề cho từng thời kỳ, tiếp tục triển khai các phong trào thi đua lao động sản xuất sâu rộng, đều khắp trong tất cả các đơn vị nhằm duy trì, nâng  cao chất lượng, hiệu  quả và tinh thần, thái độ phục vụ trong quá trình thực thi các nhiệm vụ công tác được giao. Đồng thời tiếp tục đầu tư  suy nghĩ, cải tiến các giải pháp quản lý tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, phát huy dân chủ nội bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, vừa tạo mọi điều kiên thuận lợi để CBCNV phát huy hết năng lực của mình, làm bật lên sức sáng tạo, nhiệt tình công tác, quyết tâm vượt qua khó khan gian khổ, quyết tâm xây dựng đơn vị, xây đựng  Công ty ngày càng phát triển, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được cấp trên  giao, đóng góp  nhiều hơn cho sự nghiệp CNH - HĐH  ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên.
Liên tục từ năm 1995 đến năm 2000, CBCNV Công ty đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp trên và các địa phương giao, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba; giai đoạn từ 2001 -2007, CBCNV Công ty Điện lực 3 tiếp tục phấn đấu và đạt được những thành tích đặc biệt xuất sắc được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2004) và tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì (2007). Đảng bộ Công ty 14 năm liền (1994-2007) được công nhận Đảng bộ trong sạch vững mạnh, được Thành uỷ Đà Nẵng tặng Bằng khen và công nhận Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu 5 năm 2003-2007.