Title_left HỒ SƠ CHI TIẾT Title_right
 
Zoom
 
Nvls_s
Gt_qt
Gt_dp
Gt_dn
Gt_lucky_s
Logo CÔNG TY CP XI MĂNG PHÚ THỌ
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG TY

Từ một nhà máy nhỏ bé, thô sơ, lạc hậu và thủ công, nhà xưởng chỉ có 1 lò vôi xây bằng đá và 1 số nhà tranh tre nứa, với 48 CBCNV trực tiếp tham gia sản xuất, đến nay với bề dầy 40 năm xây dựng và phát triển (31/12/1967- 31/12/2007), Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ đã trở thành một công ty có quy mô rộng lớn cả về chất lượng và số lượng. Sản xuất và tiêu thụ ngày càng tăng, mức tăng trưởng bình quân đạt 14-18%, thu nhập bình quân tăng 18-25%, nộp ngân sách hàng năm tăng 10-12%, công tác tổ chức sản xuất kinh doanh và khoa học luôn được cải tiến, mỗi năm có từ 4-8 bằng sáng kiến được cộng nhận và tặng bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Với những thành tích đã đạt được, Công ty đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Lao động hạng Ba năm 1984, Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1985, Huân chương Chiến công hạng Ba năm 1997, Huân chương Lao động hạng nhất năm 2003 và nhiều bằng khen của UBND tỉnh, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng…Liên tục trong nhiều năm gần đây, Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ luôn là top 04 doanh nghiệp dẫn đầu của tỉnh trong việc đóng góp ngân sách cho địa phương. Sản phẩm của Công ty đạt Huy chương vàng Chất lượng cao ngành xây dựng Việt Nam năm 1991, 1992, 1993, Giải thưởng Chất lượng Việt Nam năm 1999, hàng Việt Nam Chất lượng cao phù hợp tiêu chuẩn năm 2002, Giải thưởng Siêu cúp Thương hiệu mạnh phát triển bền vững năm 2005, đạt cúp vàng Top 50 sản phẩm hàng đầu cho sản phẩm Việt hợp chuẩn WTO về SHTT năm 2007…và nhiều phần thưởng ý nghĩa khác.
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc chia nhỏ, sơ tán một số nhà máy cần thiết, cho phép đầu tư một số nhà máy nhỏ ở các địa phương, nhằm cung cấp các nhu cầu thiết yếu trong tình hình giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. UBND tỉnh Phú Thọ ra Quyết định số 144/QĐTC ngày 29/9/1967, thành lập nhà máy Xi măng Đào Giã tại xã Đào Giã – huyện Thanh Ba – tỉnh Phú Thọ. Nhà máy xây dựng trên cơ sở vật chất, con người từ cơ sở sản xuất vôi phục vụ xây dựng Nhà máy chè Phú Thọ từ năm 1959 để lại.
Trong điều kiện cả nước có chiến tranh, nhà máy mới thành lập, cơ sở vật chất còn nghèo nàn. Trong khi đó, từ lãnh đạo đến công nhân chưa ai có kiến thức hoặc kinh nghiệm làm xi măng, mà nhiệm vụ chính của nhà máy là sản xuất cho được xi măng phục vụ cho xây dựng các công trình trong tỉnh, nhất là các công trình Quốc phòng. Đứng trước tình hình đó, Ban lãnh đão và tập thể CBCNV nhà máy đã cùng nhau ngày đêm hăng say lao động, người đào, người giã, người dần, sàng vôi, đất, than. Cả nhà máy sôi động một phong trào thi đua chuẩn bị nguyên liệu cho sản xuất thử.
Đến ngày 31/12/1967 Xí nghiệp đã nổi lửa đốt lò, nung mẻ Klanhke đầu tiên thành công.Qua đó khẳng định là nhà máy đã làm được xi măng, và nhà máy đã lấy ngáy 31/12/1967 là ngày truyền thống.
Được UBND tỉnh Phú Thọ cho xây dựng dây chuyền sản xuất xi măng 0.5 vạn tấn /năm (xi măng I). Nhà máy tập trung mua sắm lắp đặt thiết bị gồm: hệ thống đập chế biến đá, hệ thống vê viên, hệ thống máy nghiền 1,2 tấn/giờ, xây dựng lắp đặt lò nung Klanhke, hoàn chỉnh một dây chuyền 0,5 vạn tấn /năm. Đây là mốc son lịch sử đầu tiên của nàh máy xi măng Đào Giã đã có 1 dây chuyền sản xuất xi măng lò đứng theo phương pháp bán khô, nguyên liệu được chạy thẳng từ đá vôi (thay cho từ vôi chín). Mang tính chất cơ khí thay cho việc đào, giã, dần, sàng nguyên liệu của thời kỳ đầu.
Khi Hiệp định Pais được ký kết, Mỹ ngừng đánh phá Miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chương trình tái thiết miền Bắc được Đảng và Nhà nước quan tâm, các cơ sở công nghiệp được khôi phục, trong đó có nhà máy xi măng Hải Phòng sản xuất đủ điều kiện cung cấp xi măng để tái thiết miền Bắc với chất lượng cao. Từ đó HĐBT đã có mọt số ý kiến không cần thiết phát triển các Nhà máy ở địa phương nữa, song Ban lãnh đạo Tỉnh Vĩnh Phú đã đề nghị giữ nhà máy xi măng Đào Giã và cho tiếp tục phát triển. Năm 1974 – 1975 Nhà máy chuẩn bị phương án đầu tư mở rộng .
Năm 1976, UBND tỉnh Phú Thọ quyết định cho nhà máy xi măng Đào Giã xây dựng dây chuyền xi măng lò đứng công suất 1 vạn tấn/năm (xi măng 2) gồm hệ thống máy nghiền 2 tấn/giờ và các máy móc thiết bị mang tính chất cơ khí hóa cao hơn.
Năm 1983, đất nước vừa mới thoát khỏi chiến tranh, công cuộc tái thiết đất nước đang trên đà phát triển. Nhu cầu về ngoại tệ thì rất cần, song nguồn ngoại tệ thì qua thiếu chỉ đủ cho các công trình trọng điểm. Do vậy, xi măng trắng không được nhập. Cả nước chưa có cơ sở nào sản xuất xi măng trắng. Với lòng hăng say, óc sáng tạo vượt khó vươn lên của đội ngũ cán bộ kỹ sư của xí nghiệp đã nghiên cứu chế tạo thử và thành công xi măng trắng cung cấp cho cả nước phục vụ cho việc kiến thiết nước nhà
Ngày 10/5/1984 UBND tỉnh Vĩnh Phú ra quyết định số 100 QĐ/TC-CV về việc sáp nhập Xí nghiệp đá Đồn Hang vào Xí nghiệp xi măng Thanh Ba, thành lập Xí nghiệp liên hiệp xi măng – Đá – Vôi Vĩnh Phú. Nhiệm vụ của Xí nghiệp liên hiệp lúc này là:
Sản xuất xi măng đen, xi măng trắng, cung cấp cho nhu cầu xây dựng trong tỉnh, đá vôi cho Nhà máy giấy Bãi Bằng để phục vụ cho sản giấy. Xí nghiệp liên hiệp đã góp phần to lớn vào việc thực hiện 10.000m3 đá vôi cho Nhà máy giấy Bãi Bằng trong vòng 30 ngày đêm, theo lệnh của Chính Phủ, để Chính phủ Thụy Điển ký viện trợ cho Nhà máy giấy bãi Bằng lần 2, đồng thời sản xuất vôi phục vụ cho xây dựng và nông nghiệp trong tỉnh. Xí nghiệp liên hiệp vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba.
Năm 1985 cùng với sự ra đời của xi măng trắng, Xí nghiệp liên hiệp đã hoàn thiện dây chuyền sản xuất gạch lát hoa bằng máy ép thủy lực, sản xuất đá vôi cho Nhà máy giấy Bãi Bằng, vôi cho xây dựng Nông nghiệp, đã tạo đà cho XNLH phát triển toàn diện, được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.
Ngày 19/2/1986 tại Quyết định số 49/QĐ –TCCB của UBND tỉnh Vĩnh Phú hợp nhất Xí nghiệp đá Thanh Ba vào Xí nghiệp liên hiệp xi măng – đá – vôi Vĩnh Phú. Đến tháng 9/1986, tại Quyết định số 419/QĐ-TC của UBND tỉnh Vĩnh Phú chuyển giao Xí nghiệp đá Hương Cần thuộc Sở giao thông Vĩnh Phú quản lý sáp nhập với XNLH xi măng đá vôi Vĩnh Phú.
Ngày 6/1/1987 tại Quyết định số 04/QĐ-UB của UBND tỉnh Vĩnh Phú xếp hạng XNLH Xi măng – Đá – Vôi Vĩnh Phú loại 1.
Ngày 13/4/1988 tại Quyết định số 205/QĐ-UB của UBND tỉnh Vĩnh Phú sáp nhập xí nghiệp PUZOLAN Tiên Kiên vào XNLH xi măng đá vôi Vĩnh Phú. Quy mô gồm:
Xí nghiệp xi măng Thanh Ba có 3 xưởng:
Phân xưởng xi măng 1, xi măng 2 làm nhiệm vụ sản xuất xi măng đen.
Phân xưởng xi măng 3 sản xuất xi măng trắng.
Xí nghiệp vôi Đào Giã sản xuất vôi xây dựng và nông nghiệp.
Các xí nghiệp đá: Đồn Hang, Hương Cần sản xuất đá phục vụ cho Nhà máy giấy Bãi Bằng vào giao thông trong tỉnh.
Xí nghiệp đá Thanh ba và phân xưởng đá Ninh Dân sản xuất đá phục vụ cho sản xuất xi măng và vôi…
Năm 1993, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Xí nghiệp liên hiệp xi măng đá vôi Vĩnh Phú được mở rộng lần thứ nhất đưa công suất xi măng lên 60.000 tấn/năm.
Năm 1995, được đầu tư tiếp lần 2, dây truyền sản xuất xi măng lò đứng Trung Quốc 85.000 tấn/năm đưa tổng công suất Nhà máy lên 145.000 tấn/năm.
Ngày 20/9/1994, UBND tỉnh Vĩnh Phú ra Quyết định số 1287/QĐ-UB đổi tên Xí nghiệp Liên hiệp Xi măng Đá vôi Vĩnh Phú thành Công ty Xi măng Đá vôi Vĩnh Phú.
Ngày 01/06/1997, do tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, UBND tỉnh Phú Thọ ra Quyết định số 69/QĐ-UB đổi tên Công ty Xi măng Đá vôi Vĩnh Phú thành Công ty Xi măng Đá vôi Phú Thọ.
Ngày 30/12/2005 UBND tỉnh Phú Thọ ra quyết định số 3664/QĐ-UBND chuyển Công ty Xi măng đá vôi Phú thọ thành Công ty cổ phần xi măng phú Thọ. Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện cổ phần hóa, ngày 7/2/2007 Công ty đã tiến hành Đại hội Cổ đông lần thứ nhất thành công với vốn điều lệ lên đến 125 tỷ đồng Việt Nam, trong đó Nhà nước chiếm 18%, CBCNV và các cổ đông khác chiếm 82%.
Qua 40 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty cổ phần xi măng Phú Thọ đã trải qua một chặng đường phấn đấu đầy những gian khổ, chông gai và cũng đầy niềm tự hào vinh quang của một doanh nghiệp địa phương. Từ một doanh nghiệp có 3 chiếc lò nung luyện xi măng giã chiến ra đời trong thời kỳ chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, đến nay Công ty đã không ngừng mở rộng sản xuất, có 3 chi nhánh, 4 phân xưởng, 850 đại lý tiêu thụ sản phẩm xi măng Vĩnh Phú trên toàn quốc, nếu những năm đầu đổi mới (1986) mới sản xuất được 8.843 tấn xi măng thì đến năm 2006 Công ty sản xuất được 184.000 tấn (đạt 2.080%), doanh thu từ 49.54 triệu đồng (1986) đến 2006 lên 134.000 triệu đồng (đạt 2.704,88%), nộp ngân sách nhà nước 8,52 triệu đồng (1986), năm 2006 là 5.600 triệu đồng (đạt 657,27%), thu nhập bình quân đầu người 837,4 đồng (1986), năm 2006 là 1.360.000 đồng/tháng. Để có kết quả trên là nhờ vào sự cần cù, sáng tạo và biết tháo gỡ khó khăn, phát huy tinh thần làm chủ của tập thể, phát huy vai trò xung kích của các tổ chức Đảng, Đoàn, Công đoàn, chi bộ phụ nữ và đẩy mạnh phong trào thi đua. Đặc biệt, Công ty đã không ngừng đổi mới công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất sản phẩm nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của thị trường.
Đối với đời sống của CBCNV, Công ty đã có nhiều biện pháp hỗ trợ giúp đỡ. Như để tạo điều kiện cho CBCNV có con nhỏ, yên tâm làm việc, Công ty đã đầu tư xây dựng trường mầm non có quy mô 150 cháu, được phòng giáo dục huyện Thanh Ba đánh giá là cơ sở điển hình liên tục trong nhiều năm qua. Hàng năm, Công ty tổ chức cho CBCNV là chiến sỹ thi đua, lao động giỏi, người có thời gian công tác trên 15 năm đi điều dưỡng, thăm quan, nghỉ mát ở Tam Đảo, hạ Long, Huế, Trung Quốc. Công tác chăm sóc sức khỏe cũng được Công ty chú trọng, Công ty đã xây dựng một trạm xá với 10 giường bệnh, gồm 2 bác sỹ, 5 y tá thường trực và khám chữa bệnh cho công nhân 24/24 giờ…
Nhận thấy xi măng lò đứng đã sắp hết vai trò lịch sử, và để Công ty tồn tại và phát triển bền vững. Từ năm 2003 Công ty đã xây dựng phương án đầu tư dây chuyền lò quay với công suất 1000 tấn Klinhker/ngày, tháng 2/2007 Công ty đã chính thức ký hợp đồng xây dựng dây chuyền lò quay với tổng vốn đầu tư là 348,5 tỷ đồng, phấn đấu đến ngày 31/12/2007 sẽ cho ra sản phẩm. Dây chuyền này đi vào hoạt động sẽ dần chuyển đổi công nghệ xi măng lò đứng sang xi măng lò quay nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc và vệ sinh môi trường. Mặt khác, tạo nên một sự phát triển cho công nghiệp địa phương, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần cải thiện đời sống nhân dân trong khu vực. Đặc biệt, góp phần cân đối cung cầu xi măng cho cả nước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Lãnh đạo Công ty qua các thời kỳ
1. Đồng chí Tạ Đức Diêm - Giám đốc (Từ năm 1967 - 1999)
2. Đồng chí Nguyễn Văn Nhường - Tổng giám đốc (Từ năm 1999 - đầu 2/2008). Từ 2/2008 đến nay: Chủ tịch HĐQT
3. Đồng chí Triệu Quang Thuận - Tổng giám đốc (Từ 2/2008 đến nay).