Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Đông Ngàn Tử Kinh Bắc
No-person-img
Linh Nga Niê Kdam
Anhtuan-pic
Nguyễn Tuấn Anh
No-person-img
Nhạc sỹ Đỗ Nhuận
No-person-img
Nhạc Sỹ Huy Du
No-person-img
Nhà thơ Chính Hữu
No-person-img
Nhà văn Nguyễn Khải
No-person-img
Nhà văn Nguyễn Minh Châu
Truongducminhtu NHÀ BÁO TRƯƠNG ĐỨC MINH TỨ

TRƯỜNG SA, GẦN LẠI TRONG NỖI NHỚ


Trước khi vào đất liền cập cảng Ba Son, đoàn công tác tàu HQ 957 thăm các đảo ở Trường Sa trở về buông neo ngoài vịnh Vũng Tàu để các thành viên của đoàn chia tay, nói lời tạm biệt. Mới hôm nào khởi hành ai cũng háo hức, làm quen giữa các thành viên thì ngày về nhiều người lưu luyến, dùng dằng như muốn ở lại bên nhau thêm ít nữa, mặc cho ngoài kia thời gian đang trôi. Đã xa rồi những ngày đêm lênh đênh trên biển, xa rồi những cơn sóng lừng làm nghiêng ngả con tàu với những cơn say sóng vật vã, xa rồi những ánh mắt thẳm sâu của những người lính quanh năm suốt tháng canh giữ biển trời đất Việt giữa trùng dương.
Một nhân vật trung tâm mà tôi muốn nói đến khi kết thúc hành trình là Phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân Việt Nam - Đại tá Nguyễn Hữu Vinh. Trong lễ nghi quân đội, ông là người oai phong lẫm liệt, nhưng trong đời thường ông vui tính và nhiệt tình. Dẫn đầu đoàn công tác ra thăm cán bộ, chiến sĩ ở các đảo phía đông nam quần đảo Trường Sa, trên đường về, ông dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện cởi mở, chân tình. Ông cho biết, trong đời binh nghiệp ông tham gia chiến đấu chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ. Đối với quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam thuộc vùng 4 Hải quân, trên cương vị công tác, ông thường theo dõi và tham gia chỉ huy ở tầm chiến lược kể từ sau khi quần đảo này được giải phóng năm 1975.
- Thưa ông, qua chuyến công tác lần này, ông thấy các đảo ở phía đông nam quần đảo Trường Sa có gì thay đổi so với trước đây ?
- Như các anh đã tận mắt chứng kiến trong chuyến đi lần này, những năm qua bộ đội Hải quân Việt Nam đã vượt lên mọi khó khăn, gian khổ thiếu thốn để bảo vệ vững chắc quần đảo Trường Sa, một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Từ chỗ đảo thiếu nước ngọt, rau xanh, đời sống tinh thần hạn chế, nhà cửa, doanh trại tạm bợ nay đi đến đảo nào trên quần đảo, từ đảo nổi đến đảo chìm cũng đã cơ bản đảm bảo được nguồn nước ngọt, nơi nào cũng có rau xanh, cả trên tàu trực chiến cũng được dành một diện tích cho rau xanh. Nhà cửa trên đảo được xây dựng kiên cố, đảm bảo chống chọi được với bão lớn. Bộ đội ở các đảo và các nhà giàn từng bước được cải thiện về đời sống vật chất và tinh thần, có đủ các phương tiện nghe nhìn: rađiô, tivi; một số đảo đã có sóng điện thoại di động liên lạc thông suốt với đất liền. Trông thấy thì như vậy nhưng đã biết bao công sức, tiền của bỏ ra bao nhiêu năm nay. Sức khoẻ của bộ đội được đảm bảo nhờ bữa ăn hàng ngày có đủ rau xanh, thức ăn tươi, từ đó làm tốt nhiệm vụ canh giữ biển đảo trong mọi thời tiết khắc nghiệt. Không những thế, bộ đội trên các đảo còn giúp đỡ, hỗ trợ cho dân sinh sống tại đảo và ngư dân đánh bắt hải sản trên biển trong điều kiện xa đất liền.
- Vậy còn sự quan tâm của đất liền với đảo thời gian qua, thưa ông?
- Từ khi có Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) về chiến lược biển đảo đến năm 2020, cả nước đã hướng về Trường Sa với mối quan tâm lớn hơn, ủng hộ giúp đỡ bộ đội trên các đảo nhiều hơn. Nhiều tỉnh thành trong nước đã cử đoàn ra thăm đảo, cùng với quân chủng giúp đỡ cho các đảo về vật chất và động viên tinh thần, tạo điều kiện cho bộ đội hoàn thành nhiệm vụ nơi đảo xa...
Những điều ông nói chúng tôi đã được kiểm chứng trong suốt chuyến đi. Tuy ở xa đất liền và đời sống cũng chưa phải là hết những khó khăn, nhưng trong những người lính mà chúng tôi có dịp trò chuyện, đã có nhiều người ra đảo để thực hiện nghĩa vụ quân sự, sau đó xung phong tình nguyện ở lại phục vụ lâu dài trên các đảo và các nhà giàn, có một số quân nhân ra quân đã xin ở lại đảo xây dựng cuộc sống của một cư dân huyện đảo.
Có một điều mà các thành viên trong đoàn ra thăm đảo đều có cảm nhận chung là trong hoàn cảnh tiềm lực đất nước còn nghèo, để đảm bảo chủ quyền biển đảo, thềm lục địa, những người lính Hải quân Việt Nam đã biết khắc phục mọi khó khăn, coi trọng công tác đối ngoại với hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới, xây dựng lòng tin và hiểu biết lẫn nhau. Khi có tàu, máy bay nước ngoài đến vùng biển đảo của Việt Nam, các anh đã có phương pháp khéo léo thuyết phục, đấu tranh để họ ra đi một cách êm thấm, tránh xảy ra xung đột trên biển Đông. Theo bộ quy tắc ứng xử biển Đông (DOC) mà các bên đã ký kết thì hiện nay các bên tạm dừng việc mở rộng điểm đóng mới, giữ nguyên hiện trạng, do đó hiện các bên đều phải tôn trọng, giám sát lẫn nhau. Những hòn đảo của ta bây giờ thực sự là điểm tựa cho ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ trong công tác cứu hộ, cứu nạn khi bão tố xảy ra. Dưới tầng sâu của đại dương là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, tương lai cho sự giàu có của đất nước mà những mỏ dầu Đại Hùng, Bạch Hổ, Rạng Đông, Mỏ Rồng...ở thềm lục địa phía nam đang khơi dòng nhiên liệu chảy mãi làm "thăng hoa" cho đời sống đất liền.
Cũng như đêm đầu tiên ra đảo, đêm cuối trên hành trình trở về, không ngủ được tôi cứ lang thang mãi trên boong tàu. Ca sĩ Hồng Hạnh, Đội văn nghệ Biên phòng tỉnh Đắc Lắc có lẽ là thành viên duy nhất trong số các ca sĩ suốt cả chuyến đi đã vượt qua được những cơn say sóng. Có thể em đã dạn dày qua những chuyến đi biểu diễn ở khắp các nẻo đường biên giới, nên nay ra Trường Sa, sức chịu đựng của em tốt hơn, cũng có thể do em ít ngủ, đêm đêm cứ lên mãi trên boong tàu nhìn ngắm biển đêm. Đêm trước khi xa biển, xa những người lính đảo thân thương, Hồng Hạnh ngồi đó, thẩn thờ trong nỗi nhớ xa xăm.
Hồng Hạnh tâm sự chưa có chuyến lưu diễn nào em có ấn tượng sâu sắc như chuyến đi Trường Sa. Bài hát mà Hồng Hạnh đã hát rất nhiều lần ở các đảo là bài "Gần lắm Trường Sa" của nhạc sĩ Huỳnh Phước Liên. Em nói bài hát này khi hát trên đảo mới thấy hết ý nghĩa của từng ca từ, lung linh hình ảnh người lính và nỗi nhớ của những người em gái từ đất liền dành cho người lính ngoài đảo xa.
Tôi thực sự xúc động khi dọc hành trình, các ca sĩ, diễn viên của đoàn nghệ thuật dân tộc Đắc Lắc hầu hết đều say sóng ngất ngư, nhưng thật kỳ diệu khi cập đảo, họ tươi tỉnh trở lại và hát, múa say sưa hết mình phục vụ những người lính đảo. Trên mấy mét vuông của các đảo chìm ở Đá Lát, Đá Tây, Núi Le, nhà giàn, các diễn viên múa Tố Quỳnh, Thanh Nga, Hơ Mâu niê, Hơ Liêm niê...vẫn có thể hát, múa cho cán bộ, chiến sĩ ở đảo thưởng thức. Không sân khấu, không hoá trang, các ca sĩ, những người lính tay trong tay cùng hát vang những lời yêu thương, hát như chưa từng được hát trong tiếng sóng gầm thét bên thềm của đảo, bên những nhà giàn chênh vênh giữa biển khơi.
Nhạc sĩ, ca sĩ Y Phôn kso hát đến khản đặc cả giọng. Anh chia sẻ cùng tôi rằng đã từng đi lưu diễn nhiều nơi trong nước, kể cả nước ngoài, nhưng có lẽ được hát ở Trường Sa là niềm vui lớn nhất của anh. Anh nói khi hát ở các đảo không cần sân khấu, ánh sáng, hoá trang..., cứ hồn nhiên mà hát, và các anh chị diễn viên trong đoàn cũng chỉ mong góp một chút niềm vui nho nhỏ cho anh em lính đảo vơi bớt nỗi nhớ đất liền. Chuyến đi này Y Phôn kso còn có niềm vui riêng là được nhận làm người anh em kết nghĩa với Thuyền trưởng tàu HQ 957 với cái tên mới của người anh em này là Y Hưng kso. Không những thế, trên đảo, trên tàu, các ca sĩ, diễn viên, các thành viên khác của đoàn các tỉnh thành và lính đảo đều coi nhau như người một nhà. Trong những buổi giao lưu, họ hát cùng nhau, không phân biệt chuyên hay không chuyên. Những vòng tay cứ nối kết vào nhau tưởng như nối dài bất tận.
Và có lẽ khó khăn nhất cho những diễn viên, các thành viên của đoàn công tác là phút chia tay. Gặp nhau thoáng chốc rồi xa, những vòng tay ôm cứ cuốn chặt lấy nhau không rời, mà thời gian thì không dừng lại, chỉ cần chậm một chút thôi là chiếc xuồng sẽ mắc cạn, các thành viên của đoàn sẽ không ra được tàu để đi tiếp hành trình. Có mặt cùng đoàn văn công ra đảo, nghệ nhân nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên nổi tiếng Y Ân (Trương Ân) ngoài thời gian cùng đoàn biểu diễn đã tranh thủ lang thang trên đảo tìm kiếm các loại đá, từ đá mồ côi đến đá san hô, mảnh ốc biển. Y Ân cho biết anh sẽ sưu tầm đầy đủ, khi về sẽ chế tác một bộ đàn đá Trường Sa để có dịp biểu diễn cho đất liền nghe âm thanh kỳ diệu của biển khơi, hải đảo.
Tạm biệt tàu HQ 957, tạm biệt những người lính Hải quân đang ngày đêm cảnh giữ biển trời của Tổ quốc, ngày mai mỗi người lại về mỗi ngả trên những nẻo đường của đất nước, về với những công việc hàng ngày. Với Trường Sa, khi trở về chúng tôi đều có những cảm nhận chung, nơi ấy trong điều kiện khó khăn gấp bội phần so với đất liền nhưng ý chí sẵn sàng hy sinh của người lính thì luôn toả sáng; nơi ấy, một phần đất Việt thiêng liêng không thể tách rời cho đất nước rộng dài, bao la trời biển. Để bảo vệ từng tấc đất giữa biển khơi, Trường Sa tiếp tục cần được sự tiếp sức của đất liền, bởi tương lai của đất nước đang mở ra từ mênh mông đại dương xa thẳm.
"Không xa đâu Trường Sa ơi! Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh. Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em...". Lời bài hát của ca sĩ Hồng Hạnh hát trên các đảo, trên các nhà giàn, trên boong tàu ngày đã qua vẫn còn vang vọng trong mỗi chúng tôi dù hành trình 1170 hải lý ra đảo đã bỏ lại ở phía sau.
Trường Sa, bây giờ đã thật vời vợi xa về khoảng cách nhưng cũng thật gần trong nỗi nhớ của đất liền, của bạn, của tôi, và của tất cả những ai từng có hạnh phúc được đặt chân đến mảnh đất Việt giữa mênh mông đại dương xa thẳm.
Mối quan tâm đầu tiên của người từ đất liền ra đảo là cuộc sống vật chất, tinh thần của lính đảo. Ðảo trưởng Trường Sa Lớn, Thượng tá Nguyễn Ðại Dương, người có nước da ngăm đen, với chất giọng Quảng Trị đặc sệt nhanh chóng làm nguôi lòng khách rằng, nhờ sự quan tâm của đất liền, đời sống của cán bộ, chiến sĩ ở đảo hiện nay được cải thiện đáng kể.
Mỗi năm có một chuyến tàu cung cấp lương thực, thực phẩm; đảo tăng gia sản xuất thêm như nuôi lợn, gà, đánh bắt hải sản, trồng các loại rau. Mùa biển lặng, trung bình mỗi tháng mỗi anh em tăng gia được 14 kg rau, 1,6 kg thịt lợn, 11 kg cá. Các phương tiện nghe, nhìn được trang bị đầy đủ đến các cụm; sóng điện thoại di động đã có nên việc liên lạc với đất liền thuận tiện hơn. Nước ngọt để dùng bây giờ cũng tạm đủ sinh hoạt nhờ xây được thêm nhiều bể chứa nước mưa.
Nói đến nước ngọt, Chính trị viên - Trung tá Nguyễn Văn Ðình, người có "thâm niên" trên dưới 10 năm ở đảo, kể hồi mới ra đảo Nam Yết, có những đợt trời khô hạn, bộ đội phải ăn nước biển cả tháng trời, còn tắm thì chỉ tắm khô, nghĩa là chỉ vận động cho ra mồ hôi rồi lấy khăn lau. Rồi anh đọc câu thơ của một chiến sỹ
"Nước mặn con ăn ngày ba bữa
Chờ mãi ông trời chẳng mưa cho
Đồng đội nhường nhau ca nước cuối
Nhường nhau, ca nước bỗng nên thừa"
Nước ngọt hồi đó hiếm đến nỗi lính đảo phải cắt trụi tóc vì không có nước gội đầu. Cuộc sống lính đảo Trường sa bây giờ tươm tất hơn xưa, chỉ nỗi nhớ đất liền là vẫn vẹn nguyên như bao thế hệ đi trước.
Trung sĩ Nguyễn Anh Tiệp, 22 tuổi, người trẻ nhất ở đảo Phan Vinh quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, ra đảo gần một năm rất tự hào vì là người theo con đường binh nghiệp của bố. Tuy sống ở miền núi nhưng khi vào quân ngũ, Tiệp xung phong ra đảo, nơi bố anh từng làm nhiệm vụ một thời ở đảo An Bang và Trường Sa Lớn. Tiệp nói, so với thời bố ở đảo kể lại thì bây giờ đời sống đỡ hơn nhiều. Trong hồi ức của những người có mặt ở Trường Sa Lớn sau ngày đảo được giải phóng, nơi đây tuy là "thủ phủ" của quần đảo nhưng chỉ là một bãi san hô, cát trắng phơi mình trong nắng gió. Từng bước một, qua hơn ba mươi năm tiếp sức không ngừng nghỉ từ đất liền, mầu xanh đã phủ khắp trên đảo. Tiếp theo, nhà cửa của dân, doanh trại bộ đội được xây dựng khang trang, bề thế. Người ta ước tính để đưa được một tấn đất ra đảo phải mất mười tấn dầu cùng bao công sức vượt biển. Thế mới biết nắm đất Việt trên đảo xa đáng giá và thiêng liêng biết bao. Có đất, sự sống trên đảo sinh sôi.
Trưa, nằm nghỉ ở doanh trại, thảng thốt khi nghe tiếng gà gáy mà quên mất là mình đang ở giữa ốc đảo bốn bề sóng nước. Từ phong trào "Trường Sa vì cả nước, cả nước hướng về Trường Sa", không chỉ ở Trường Sa Lớn mà ở đảo Trường Sa Ðông, Phan Vinh, Núi Le, Tiên Nữ, Nam Yết, Sinh Tồn... mầu xanh vươn lên một cách mãnh liệt, bất chấp sự khắc nghiệt của bão táp, gió muối. Buổi chiều dạo một vòng quanh đảo, bắt gặp từng đàn lợn, ngan, vịt xôn xao tìm mồi mà tưởng vào một làng quê nào đó trong đất liền. Ngay như ở đảo Ðá Tây, Ðá Lát tuy là đảo chìm nhưng quanh doanh trại, lính đảo tận dụng từng mét vuông đặt khay đất để trồng đủ loại rau xanh như rau muống, rau cải, mồng tơi, trong chuồng gà có rất nhiều trứng, rồi ngan, vịt, nhiều nhất là những chú chó...
...Vâng, những người trẻ hướng tương lai mình đến vùng biển đảo Trường Sa là đã nhận thức được rằng, ngoài trách nhiệm của một công dân, sự giàu có, hào phóng của biển khơi sẽ chắp cánh cho khát vọng lập thân, lập nghiệp. Biển đảo Trường Sa tuy thời tiết khắc nghiệt, bốn bề sóng gió nhưng mang chứa trong mình tiềm năng rất lớn về hải sản, các nguồn lợi khác mà con người chưa khai thác hết. Chỉ nói về những tiềm năng đã lộ thiên, có thể nhìn thấy được như lợi thế nuôi trồng thủy sản ở đảo Ðá Tây, nơi có khu dịch vụ hậu cần nghề cá lớn nhất trong các đảo. Ðiểm Ðá Tây A nơi chúng tôi cập xuồng nguyên thủy là một miệng núi lửa. Có thể hình dung đảo Ðá Tây là một cái hồ giữa biển, có độ sâu từ 15-30 m, nơi đây có hai cửa luồng đi vào, cập được tàu trọng tải một nghìn tấn. Với địa hình đảo san hô như thế nên Bộ Thủy sản đã xây dựng ở đây một điểm nuôi trồng thủy hải sản. Qua thể nghiệm đã nuôi thành công loài cá chim trắng và cá chẽm (cá vược), cá mú, cá hồng, sắp tới khi có tổng kết đánh giá sẽ chuyển giao kỹ thuật cho dân nuôi.
Nhưng có lẽ thuận lợi nhất của Ðá Tây là nơi Bộ Giao thông - Vận tải chọn xây dựng một cảng cho tàu vào neo đậu tránh bão, là nơi cung cấp các dịch vụ nghề cá. Với diện tích hơn 10 cây số vuông, được che chắn bởi dày đặc rặng san hô, khi sóng bên ngoài lên cấp mười thì ở trong lòng hồ chỉ là cấp tám. Khảo sát này đưa đến hình thành dự án sẽ xây dựng một cảng cho ngư dân đánh bắt xa bờ cập vào tránh bão khi không kịp về đất liền.
Ðảo trưởng Ðá Tây Nguyễn Xuân Triệu cho biết, mới đây trong cơn bão số 1 năm 2008, có hơn 30 tàu đánh cá của ngư dân các tỉnh Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa... vào Ðá Tây neo đậu trong lòng hồ, tránh được bão an toàn. Ðảo Ðá Tây còn là điểm tựa cho ngư dân ra đánh cá trong hoàn cảnh gặp nạn, đau ốm đột xuất, vì thế ngày càng có nhiều tàu đánh cá đến neo đậu ở đây. Khi những dự án nói trên được thực hiện, nơi đây trở nên đông vui, vừa khai thác được tiềm năng của Ðá Tây, vừa bảo vệ chủ quyền Tổ quốc một cách vững chắc hơn.

  Trương Đức Minh Tứ - Báo Quảng Trị  

Arrow2 Đất Việt giữa trùng dương
Arrow2 Hơi ấm đất liền nơi Đảo xa
Arrow2 Tình quân dân nơi đầu sóng ngọn gió
Arrow2 Sức sống mới ở Trường Sa
Arrow2 Vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng
Arrow2 Trường Sa gần lại trong nỗi nhớ