Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Tân Linh
No-person-img
Nhà báo Thanh Xuân
No-person-img
Nhà báo Thảo Lư
No-person-img
Nhà báo Thiếu Gia
No-person-img
Nhà báo Thu Loan
No-person-img
Nhà Báo Trần Hậu
No-person-img
Nhà báo Trần Thanh Phương
No-person-img
Nhà báo Trần Thu Hằng
No-person-img NHÀ BÁO TRẦN BẠCH ĐẰNG

VÀI SUY NGHĨ VỀ MẶT TRẬN
 DÂN TỘC THỐNG NHẤT


1. Khi con người xuất hiện trên hành tinh này, một nhu cầu tự thân và liên quan đến sự sống còn của con người là mối liên hệ giữa người và người, dù ở dạng gia đình, thị tộc, bộ tộc hay phát triển lên  trình độ cao hơn. Mối gắn bó ấy do hoàn cảnh lịch sử cụ thể, do môi trường sinh sống, đương nhiên vấn đề huyết thống giữ vai trò quyết định. Mối quan hệ ở nhiều dạng và quy mô khác nhau, chịu sự chi phối của sự tiến hoá xã hội và hoàn cảnh thiên nhiên mà con người phải chấp nhận.
2. Tuy xuất phát từ nguyên lý chung như vừa nói, song sự liên kết giữa con người, ngay trong phạm trù dân tộc, lý do địa phương, lý do tín ngưỡng, và trên tất cả, lý do quyền lợi vật chất luôn luôn có mặt và đến đây, bản lĩnh của một dân tộc, một quốc gia là xử lý những mâu thuẫn ấy như thế nào để bảo tồn cái lớn hơn, cái bao quát hơn, đó là sự tồn tại của những cộng đồng cư dân, của những dân tộc, của quốc gia, thậm chí như khái niệm hiện nay chúng ta đang dùng, của lãnh thổ. Như thế, mối gắn bó giữa con người là tổng hoà của nhiều yếu tố, có nơi, có lúc đối đầu với nhau, thậm chí gây tang tóc, đồng thời cũng tạo lập ra mối liên kết bền vững để vượt qua bất trắc, chia rẽ bất kể đến từ đâu.
3. Việt Nam trước khi định hình như một quốc gia bên trong biên giới của mình, đã là một dân tộc theo nghĩa những tập thể cùng sinh sống trước thiên nhiên và trước những tai hoạ từ bên ngoài. Chính qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, tính cách dân tộc của cộng đồng các thực thể dân cư hợp thành một khối thống nhất về nguyện vọng  và mục đích phấn đấu để tồn tại. Sau thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Việt Nam nối tiếp nhau và không kể những lần bị xâm lược hoặc bị chiếm đóng - thường không dài - đã đồng nhất  khái niệm dân tộc - quốc gia, trong đó có nét riêng về văn hoá, đồng thời có phạm vi lãnh thổ mà bất cứ một dân tộc nào trên thế giới cũng hình thành quy luật đó. Mỗi quốc gia dân dân tộc luôn xoay quanh cái trục chính là số người của dân tộc nào đông nhất, giữ địa vị chi  phối hàng đầu bước phát triển của quốc gia - người ta gọi đó là dân tộc phát xít Đức là công sức của toàn thể các dân tộc  thuộc Liên Xô, song trong lời chúc mừng tại lễ mừng công, Stalin, người thuộc dân tộc (Grudia) đã ca tụng lực lượng dân tộc Nga là lực lượng lãnh đạo  toàn cộng đồng các dân tộc Liên Xô .
Nói như thế không có nghĩa là  nội bộ các tầng lớp nhân dân trên lãnh thổ Việt Nam  trong lịch sử không có xung khắc gì nghiêm trọng. Vào thời bình, sự xung đột về  quyền lợi giữa các tầng lớp  xã hội không phải hiếm hoi ở nước ta. Rất đơn giản, khi mà sự phân hoá giai cấp như cái thông thường trong đời sống, xã hội đương nhiên có tầng lớp thống trị và áp bức của thiểu số trước những người bị thống trị và bóc lột vốn là số đông. Là một quốc gia đa dân tộc, sự phân hoá trên liên can đến những dân tộc nhỏ hơn và có số phận hẩm hiu hơn. Nổi dậy nơi này nơi khác vẫn thường có ở nước ta kể từ ngày nước ta giành được quyền tự chủ vào thế kỷ thứ X. Ngoài ra, cũng có những trường hợp nghiêm trọng hơn, như thời cuối Lê (Nam - Bắc triều) và sự phân chia tạm thời Đàng Ngoài, Đàng Trong mà sông Gianh như một thứ ranh giới; như thời kỳ Tây Sơn, thậm chí đất nước lại chia nhỏ hơn trước thời kỳ Nguyễn Huệ, và sau này Nguyễn Ánh, thực hiện công việc thống nhất. Đó là chuyện tạm thời. Tuy nhiên, vào những thời điểm nhất định, khi thế nước lâm vào cảnh hiểm nghèo trước hoạ xâm lược bên ngoài, đồng bào người dân sát cánh với nhau để bảo vệ lãnh thổ, tức bảo vệ chủ quyền quốc gia và đồng thời bảo vệ lợi ích của mọi người. Thời trước, sự quy tụ ấy chung quanh các triều đại mà lực lượng  thống trị  ngày hôm qua còn  đối địch với đông đảo nhân dân nhưng nay quyết tâm cùng nhân dân giữ lãnh thổ và chủ quyền, trở thành lực lượng lãnh đạo mà sử chúng ta lặp tới lặp lui rất nhiều lần. Đó là hiện tượng kéo dài cả ngàn năm, trước khi nhân loại biết được ánh sáng của lý thuyết giải phóng con người thống nhất với giải phóng dân tộc.
Kẻ thù bên ngoài khi đến xâm lược nước ta đương nhiên tìm công cụ tại chỗ. Với những lý do khác  nhau, số chống lại Tổ quốc này có khi khá đông và cũng có  hình thức nối tiếp nhau, trở thành đối tượng mà người yêu nước phải đối phó. Tuy nhiên, điều rất rõ ràng, số người ấy là thiểu số trong cộng đồng dân tộc và luôn trải  qua sự phân hoá. Không ai phạm sai lầm mãi  mãi, không gia đình nào kế tục  sai lầm qua các thế hệ. Chúng ta chứng kiến nhiều con người, nhiều gia đình như vậy, trước kia lẫn hiện nay. Dòng máu đồng bào, đồng chủng cuối cùng giữ vai trò quyết định sự phân hoá nói trên. Một vài ví dụ ở ta: gia đình Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu nổi tiếng thân Pháp nhưng vẫn có luật sư Hoàng Quốc Tân là người cộng sản, lãnh đạo bộ phận trí vận ở thành phố Sài Gòn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp; Nguyễn Thân được Pháp sử dụng chống lại phong trào Cần Vương và yêu nước một cách khốc liệt ở Trung Bộ nhưng lại có trong trực hệ một Nguyễn Thiệu là Bí thư An Nam Cộng sản Đảng tỉnh Mỹ Tho; trong gia đình Bùi Quang Chiêu có Bùi Quang Tùng, dược sĩ, tham gia hai cuộc kháng chiến, Bùi Thị Cẩm - vợ của luật sư Phạm Ngọc Thuần - là đảng viên cộng sản thuộc hàng tiêu biểu của tri thức. Tức, xét vấn đề - vấn đề phân hoá  về các phía đối lập  nhau trong người Việt chúng ta - luôn cần có cách nhìn biện chứng và thực tế.
4. Giữ thế kỷ XIX, Việt Nam đứng trước hiểm hoạ mới, cũng như các dân tộc trên thế giới. Đó là chủ nghĩa tư bản phương Tây. Thời thế đã thay đổi, lực lượng  cũng thay đổi. Trong hàng ngũ dân tộc xuất hiện một lực lượng mới - những người  lao động tiếp cận với công nghiệp mà vì nhu cầu cai trị, thực dân phải chấp nhận sự ra đời của họ - lực lượng  mới này dần dần giữ vị thế xã hội lớn hơn. Việt Nam không bao giờ thiếu những nhà hùng tâm, hùng lực, nhưng lịch sử lại đòi hỏi một dân tộc  bị áp bức phải có phương hướng thích hợp để tự giải phóng. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, dư âm của nó, bằng nhiều ngả khác nhau, tác động vào Việt Nam. Cũng cần đến 10 năm, tính chất tự phát của cuộc đấu tranh mới chuyển thành tự giác, mà cái mốc là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và bắt đầu được trang bị bằng tư tưởng tiên tiến của thời đại, mà tiêu biểu ở Việt Nam là tư tưởng Hồ Chí Minh. Nội dung đoàn kết nhân dân đã đồng nhất với nội dung đoàn kết dân tộc - không phải ngay lập tức nhưng từng bước một đã soi rọi bước đường đi của không những quần chúng lao khổ mà cả những tri thức, những người hiểu được thời thế và đã hành động thích hợp. Chúng ta có thể nói rằng từ năm 1930 đến nay nội dung đoàn kết nhân dân, đoàn kết dân tộc không ngừng được bổ sung  và thêm phong phú.  Như vậy, ngọn cờ tập hợp cho khối đoàn kết đương nhiên do những người tiên phong - là những người cộng sản phất cao. Và đến đây, chúng ta thấy yếu tố huy động lực lượng không tách rời với sự trưởng thành của bộ phận lãnh đạo. Lãnh đạo như thế nào mới có thể tạo sự đồng thuận của toàn xã hội và toàn dân tộc theo mục đích chung, trên nguyên tắc lợi ích quốc gia, dân tộc là tối cao, là vượt lên mọi lợi ích khác. Để đi đến chiến thắng kẻ thù và thiết lập một hệ thống xã hội tiến bộ thì mọi lực lượng trong cộng đồng dân tộc đều phải chấp nhận những hy sinh nhất định. Không phải chỉ các giai tầng giàu có mới chịu hy sinh này, mà chính quần chúng công nông còn chấp nhận cao hơn, bởi cái cuối cùng vẫn là một quốc gia có chủ quyền, một dân tộc có trình độ tổ chức xã hội và xây dựng được những cơ sở đủ mạnh để thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, theo một hệ thống định chế thích hợp. Không thể có một khái niệm đoàn kết chung chung mà chỉ có một khái niệm mọi lực lượng tập trung cho mục đích tối cao và quyết định tất cả. Nếu nói đến công lao to lớn thực hiện đại đoàn kết dân tộc thì công lao đó là từ chính sách và tổ chức thực hiện của Đảng Cộng sản theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, khi đất nước đã được giải phóng hoàn toàn. Đảng Cộng sản đã trở thành đảng cầm quyền thì nội dung đoàn kết cũng phát triển theo tỷ lệ thuận với tăng trưởng quyền lực lãnh đạo, quyền lực nhà nước và đời sống trên nền kinh tế phát triển, trong đó lợi ích chính đáng của mọi thành phần xã hội đều được phân định. Diễn đạt cách khác, khi Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, tức sự quy tụ nhân dân vào một Mặt trậnchiến đấu thống nhất không phải chủ yếu bằng lời kêu gọi, bằng tiến hành vận động từng nhóm nhỏ các lực lượng, bằng cương lĩnh hứa hẹn tương lai... mà bằng một thực lực giữ quyền đề ra đường lối và chính sách phát triển đất nước, với tất cả các công cụ - quan trọng hàng đầu là chính quyền - nghĩa là quá trình hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất có đủ cơ sở để thêm vững mạnh. Xin được nói thêm điều sau đây: Mặt trận nói chung ở ta, kể từ năm 1930 về sau, từng được Đảng Cộng sản quy tụ với nhiều hình thức, ví dụ Mặt trận dân chủ, Mặt trận phản đế... Thường thường, những hình thức Mặt trậnnhư thế được lịch sử phong trào cách mạng thế giới gọi chung là lực lượng "Cánh tả", tận bây giờ ở hầu hết các nước trên thế giới vẫn có hình thức "Mặt trậncánh tả" để phân biệt với những hình thức "Mặt trậncánh hữu" khác. Hiện tượng ấy mang đặc điểm của tình hình hoặc từng giai đoạn cách mạng hoặc do đặc thù của quốc gia. Ở ta, tiến trình từ "Mặt trậncánh tả" lên đến Mặt trậnThống nhất Dân tộc vừa theo xu thế phát triển của một nước thuộc địa, một nước nông nghiệp nghèo, đồng thời chính là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Cái nguyên lý mà học thuyết Mác - Lênin từng nhấn mạnh và Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở Việt Nam là Đảng Cộng sản chỉ có thể tập hợp đông đảo quần chúng và đóng vai trò hạt nhân của Mặt trậnấy khi bản thân Đảng "đã trở thành dân tộc". Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản cực kỳ cao đẹp, song lực lượng hành động là đông đảo quần chúng, những người yêu nước - lực lượng dân tộc. Bằng không, cái mục đích cực kỳ cao đẹp kia khó trở thành hiện thực. Về phương diện này, Đảng ta từng phê phán xu hướng "tiền phong chủ nghĩa", tức lấy ý chỉ của những người giác ngộ nhất làm ý chí của đông đảo quần chúng mà quên rằng xã hội bao giờ cũng gồm bộ phân tiên tiến nhất - số ít - cùng bộ phận đứng giữa, đôi khi lừng chừng trước một tình thế nào đó, một khẩu hiệu nào đó - số thật đông - và bộ phận ta tạm gọi là lạc hậu - số ít.
Vậy thì, bộ phận tiên tiến nhất phải thâm nhập và huy động cho được bộ phận "lạc hậu" lên tầm cao hơn, thậm chí có những trường hợp phải cưỡng lại hay trấn áp bộ phận ấy nếu sự lạc hậu đồng nghĩa với phản động.

Trần Bạch Đằng - Tạp chí Mặt trận

Arrow2 Vài suy nghĩ về mặt trận dân tộc thống nhất
Arrow2 Đổi mới công tác mặt trận tìm đáp số, không đơn giản