Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Xuân Hoài
No-person-img
Nhà Báo Nguyên Thủy
No-person-img
Nhà báo Nhị Lê
No-person-img
Nhà báo Ninh Viết Giao
No-person-img
Nhà báo Phan Hữu Dật
Phambanhieu
Nhà báo Phạm Bá Nhiễu
No-person-img
Nhà báo Song Thành
No-person-img
Nhà báo Tân Linh
No-person-img NHÀ BÁO TRẦN BẠCH ĐẰNG

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC MẶT TRẬN TÌM ĐÁP SỐ, KHÔNG ĐƠN GIẢN

 

Không phải đến thời đại chúng ta, yêu cầu xây dựng liên kết chính trị xã hội mới được các thế lực lãnh đạo xã hội quan tâm. Xét trên bình diện chính trị ở bất cứ cộng đồng dân cư, quốc gia, dân tộc nào và ở bất cứ thời điểm nào của lịch sử, các thế lực lãnh đạo cũng phải tìm cách hội tụ các lực lượng xã hội, rộng hẹp tùy hoàn cảnh để tìm thêm nguồn sức mạnh nhằm đạt đến mục đích nào đó.
Trong tiến trình lịch sử tồn tại và phát triển, Việt Nam luôn ở tình thế vừa xây dựng vừa bảo vệ đất nước, xây dựng để bảo vệ, bảo vệ để xây dựng. Ta không cường điệu đến mức nhấn mạnh hiện tượng đoàn kết dân tộc như là tài sản độc đáo, hơn người hay chỉ có ở Việt Nam nhưng cũng không ngại thiếu khiêm tốn khi nói rằng đối với dân tộc Việt Nam, dù khác nhau về lợi ích riêng tư, thậm chí mâu thuẫn lợi ích với nhau song mỗi khi không gian sinh tồn và bản sắc dân tộc bị đe dọa thì cả dân tộc sẵn sàng đứng lên. Truyền thống yêu nước thương nòi được hun đúc qua hàng ngàn năm đấu tranh để sống còn đã trở thành tiền đề bao trùm cho phép quy tụ tuyệt đại đa số nhân dân vì sự nghiệp giành và giữ nền độc lập, tự chủ của quốc gia. Hai Bà Trưng đã biết kêu gọi “rửa nhục nước, trả thù nhà”, kết hợp việc chung và việc riêng, cả nước đứng lên khởi nghĩa. Nhà Trần với Hội nghị Diên Hồng đại đoàn kết quốc gia làm nền vững chắc cho ba lần kháng chiến thắng lợi chống quân Nguyên. Lê Lợi với tụ nghĩa Lam Sơn.
Ở thời đại Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc trở thành một trong những nhân tố hàng đầu có tính quyết định giành thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm chống thực dân Pháp và xâm lược Mỹ vì độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc.
Tuy vậy, cũng chính lịch sử đã cung cấp không ít những bài học không thành công về phương diện này. Vua Giản Định và Trùng Quang không thành công phải chờ đến Lê Lợi mới giải phóng được đất nước khỏi ách thống trị nhà Minh. Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học cũng sớm đi vào thất bại. Tư tưởng tả khuynh đối với quần chúng Cao Đài Tây Ninh và Hòa Hảo trong chống Pháp gây những tác hại kéo dài trong nhiều năm…
Mục đích có đúng, lý tưởng có đẹp nhưng chính sách và phương thức hoạt động của Mặt trận không thỏa đáng, không phù hợp thì không quy tụ được rộng rãi các lực lượng xã hội, khó có phong trào hành động cách mạng mạnh mẽ. Quá khứ dạy ta như vậy, kinh nghiệm hiện đại cũng dạy ta như vậy.
Mặt trận dân tộc thống nhất là sản phẩm tất yếu, là một dạng liên minh chính trị của các lực lượng xã hội có lợi ích ít nhiều khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau - đồng thuận trên cơ sở một chương trình tối thiểu để đồng tâm hiệp lực cùng thực hiện một yêu cầu chung được xác định.
Hơn 75 năm qua kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài lãnh đạo chính trị, lần lượt đã ra đời nhiều tổ chức Mặt trận khác nhau, mang tên khác nhau, đối tượng tập hợp, mục đích rộng hẹp khác nhau tùy từng giai đoạn cách mạng: Mặt trận phản đế, Mặt trận dân chủ, Mặt trận Việt Minh, Hội Liên Việt rồi Mặt trận Liên Việt thời chống Pháp, Mặt trận Tổ quốc ở miền Bắc và Mặt trận dân tộc giải phóng ở miền Nam thời chống Mỹ và sau đại thắng năm 1975, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của cả nước thống nhất, hoàn toàn độc lập và tự do, bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh.
Trong cuộc đấu tranh sinh tử kéo dài mấy thập niên vì độc lập tự do thống nhất Tổ quốc, trước sự mất còn của đất nước và dân tộc, mối tương tác về nghĩa vụ và quyền lợi riêng rẽ của cá nhân, kể luôn cả sinh mệnh đã nhường chỗ một cách tự nguyện cho nghĩa vụ và quyền lợi tối thượng: hy sinh tất cả để cứu nước. Khối đại đoàn kết toàn dân với nội dung đó trong thời đại Hồ Chí Minh đã mang sức mạnh của dân tộc lên tuyệt đỉnh đảm bảo thắng lợi.
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc, nối tiếp truyền thống vinh quang của thời đã qua, phải góp phần giải đáp yêu cầu to lớn của giai đoạn cách mạng mới: xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ đất nước. Trong điều kiện mới, thiết lập liên minh toàn xã hội khá phức tạp so với thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc. Khẩu hiệu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thể hiện ra cuộc sống, tất nhiên không phải một lúc mà làm được, tìm đáp số về yêu cầu lợi ích của mọi thành viên trong xã hội là không đơn giản. Ngày nay, mối tương tác giữa nghĩa vụ và quyền lợi biểu hiện dưới bộ mặt mới; trong đó, nghĩa vụ phải cân đối với quyền lợi, quyền lợi mọi tầng lớp phải được chăm sóc thỏa đáng và đi đôi với nó, nghĩa vụ cũng phải được đảm bảo thực hiện thỏa đáng tương ứng.
Nói đến lợi ích, điều không thể tránh khỏi là sự cọ sát, nhiều khi gay gắt trong nội bộ nhân dân, giữa cá nhân với cá nhân, trong cộng đồng, giữa một bộ phận nhân dân với cơ quan quản lý Nhà nước v.v… điều hiếm có hoặc không có trong giai đoạn trước làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân.
Hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chỉ có thể sống động trong vai trò của mình từ những sự cọ sát có thể có hoặc đã xảy ra để tìm ra giao điểm cuối cùng của sự đồng thuận xã hội.
Mặt trận dân tộc thống nhất ở nước ta mà đại biểu là tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đứng trước những thử thách nghiêm trọng về vai trò và uy tín của mình mà cốt lõi là tính hiệu quả thiết thực trong hoạt động của nó. Từ rất nhiều năm trước đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trở thành một thiết chế mang tính chất trang trí, một lính kiểng của hệ thống chính trị ăn lương Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc gần như rơi vào điểm chết trong vai trò chính trị của nó. Nói hoạt động của Mặt trận Tổ quốc gần như được biết đến qua các tuyên bố chính trị, các cuộc vận động cứu trợ nạn nhân thiên tai, mua công trái, “xuân thu nhị kỳ” được dự họp một lần với Hội đồng nhân dân các cấp, Quốc hội và Chính phủ để nghe là chủ yếu, năm năm một lần làm công việc "ba lên hai xuống" giới thiệu người ứng cử vào các cơ quan dân cử và sau đó đôi khi làm một vài thủ tục để bãi miễn một số trường hợp… Tôi không cho rằng những hoạt động nói trên là không cần thiết, song liệu vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải chăng chủ yếu chỉ có bấy nhiêu? Có ý kiến cho rằng, cần tìm lại vị thế của Mặt trận. Vấn đề không phải là ở chỗ đó. Vai trò và vị trí chính trị của Mặt trậnđã được xác định ngay ở buổi ban đầu và đã được ghi trong nhiều điều khoản của Hiếp pháp cần phải hoàn chỉnh thêm, dĩ nhiên cái chủ yếu đặt ra là tại sao vai trò, vị trí ấy không được phát huy, xét về sự xây dựng và phát triển nội tại hữu cơ của toàn bộ hệ thống chính trị và của chính bản thân Mặt trận.
Hệ thống chính trị là sản phẩm của cách mạng do Đảng - người tổ chức và lãnh đạo đồng thời là một cơ cấu hợp thành cùng với hệ thống Nhà nước và Mặt trận (và các đoàn thể chính trị-xã hội). Sức mạnh của chế độ lệ thuộc vào hiệu quả tổng hợp các hoạt động của toàn bộ hệ thống trong mối quan hệ hữu cơ, tương tác và bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục đích cao nhất như Hồ Chí Minh từng nói: “Bao nhiêu quyền lực là của nhân dân”.
Sau khi đất nước hoàn toàn độc lập tự do và thống nhất, Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Trong điều kiện mới, Đảng đề ra cơ chế quan hệ và hoạt động của hệ thống chính trị là “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”. Cơ chế đó trở thành cơ chế dân chủ cơ bản của chế độ được ghi nhận trong các văn bản pháp quy. Bất cứ trục trặc nào trong mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể hệ thống chính trị luôn luôn là vấn đề hết sức nhạy cảm có liên quan đến sức mạnh của chế độ và nền dân chủ xã hội, trước hết và chủ yếu tìm nguyên nhân từ trong sự vận hành của chính cơ chế đó. Việc Mặt trận đang loay hoay tìm lại vị trí của mình phải chăng nên tìm từ nơi ấy, ngoại trừ trường hợp chính Mặt trận tự đánh mất vị trí của mình.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua thử thách trong cuộc đấu tranh lâu dài giải phóng đất nước được toàn thể nhân dân công nhận vai trò lãnh đạo chính trị tuyệt đối cách mạng Việt Nam và cả dân tộc xem Đảng là Đảng của mình. Các lực lượng cách mạng xoay quanh trung tâm lãnh đạo ấy, hơn thế nữa là Bộ Tổng Tư lệnh để trực tiếp nghe mệnh lệnh. Hoàn cảnh đặc biệt, phương thức và phong cách lãnh đạo đặc biệt là cần thiết để đảm bảo thắng lợi là điều đương nhiên.
Sau đại thắng 1975, sự nghiệp đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc đã hoàn thành. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong trạng thái bình thường. Đảng trở thành Đảng cầm quyền nhưng vẫn giữ hầu như nguyên vẹn phương thức và phong cách lãnh đạo cũ của giai đoạn đã qua, thực tế Đảng làm cả chính quyền khiến cho Đảng thực tế trở thành một cơ cấu chính trị - xã hội siêu quyền lực và để đảm bảo vận hành, chức danh đảng viên trở thành chuẩn trước hết và trên hết, chưa hẳn tất cả đều đáp ứng về đức tài và chắc chắn không chỉ có họ mới là người tài đức vượt trội trong toàn xã hội để chọn và giữ các chức vụ chủ chốt từ cơ sở đến trung ương. Siêu quyền lực cộng với tính biệt phái về cán bộ khiến cho tính chất Đảng trị ngày càng biểu hiện.
Hậu quả là mối quan hệ tương tác trong hệ thống chính trị diễn biến không bình thường, cơ chế dân chủ cơ bản của chế độ: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý không được phát huy, khối đại đoàn kết dân tộc bị thu hẹp… và cả chính vai trò lãnh đạo của Đảng cũng bị tổn thương.
Như vậy, vấn đề tiên quyết được đặt ra là phải nhanh chóng đổi mới thực sự tư duy, phương thức và phong cách lãnh đạo của Đảng.
2. Nhà nước ta là của dân, do dân vì dân là một trong những công cụ làm chủ của nhân dân, thậm chí là công cụ làm chủ chủ yếu và mạnh nhất được nhân dân trao quyền lực quản lý xã hội, thể hiện về mặt thiết chế 3 nhánh: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp chế ước lẫn nhau. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực, Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao theo hiến định. Nhưng trong thực tiễn nhiều  năm trước đây, dù gần đây hoạt động của Quốc hội có tiến bộ hơn, Quốc hội và Hội đồng nhân dân thể hiện quyền lực của mình không vượt quá việc bỏ phiếu và “thống nhất ý kiến” trong những cuộc họp ít ỏi Hạ - Đông nhị kỳ của Quốc hội và vài ba tháng một lần, mỗi lần vài buổi càng xuống dưới càng mang tính chất hình thức của Hội đồng nhân dân. Trong thực tiễn, rốt lại nhánh hành pháp trở thành một cơ quan siêu quyền lực trong hệ thống Nhà nước, được tăng cường độ dưới bóng siêu quyền lực trên thực tế của Đảng. Sự tha hóa quyền lực của nhánh hành pháp diễn ra không ít nơi nếu không nói thẳng là mang tính phổ biến ở mọi ngõ ngách, ở mọi cấp bậc. Nhân dân - người chủ chân chính của đất nước sau khi bỏ lá phiếu ủy quyền quản lý xã hội cho Nhà nước thì đơn thuần còn lại số phận của người bị quản lý, người bị cai trị trên thực tế. Các cơ quan quyền lực dân cử, Mặt trận và các đoàn thể… thực sự lu mờ.
Vì vậy, điều tiên quyết thứ hai là phải xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền, pháp quy hóa mọi quan hệ tương tác của các chủ thể của hệ thống chính trị.
3. Vị trí, vai trò của Mặt trận bao gồm các tổ chức thành viên đã được ghi nhận ở Điều 9 Hiến pháp. Sự lu mờ của Mặt trận tôi đã nêu ở phần trên và không có ý định đi sâu phân tích thêm nữa vì đã dùng lời lẽ đến tận cùng. Tìm lại vị trí và vai trò của Mặt trận, trên cơ sở đó đổi mới hoạt động lệ thuộc vào sự đổi mới toàn diện các mối quan hệ tương tác của toàn bộ hệ thống chính trị. Như ta thường nói áo mặc không thể qua khỏi đầu.
Tuy nhiên sẽ là phiến diện nếu chỉ dừng ở đây, mặc dù đó là nguồn gốc cơ bản, nếu không đề cập đến tính tích cực chủ quan bị đánh mất của chính Mặt trận và các đoàn thể và từ đó đánh mất vai trò, vị trí của mình. Tầm quan trọng cùng sự cần thiết của Mặt trận và các đoàn thể không thể đạt được qua ngôn từ. Bản thân giá trị của các hoạt động có hiệu quả là một cách chứng minh sự tồn tại không thể thiếu của Mặt trận và các đoàn thể. Người ta không thấy thái độ, không nghe tiếng nói, không sự đấu tranh quyết liệt của Công đoàn bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân, của Hội nông dân khi nông dân bị mất đất thậm chí bị quan quyền cướp đất, khi nông dân trở thành nạn nhân của những chính sách không hợp lý giải tỏa đền bù v.v… Không bao giờ có được sự đổi mới khi sự nghiệp lớn lao ấy không dựa trên sự hậu thuẫn của đông đảo quần chúng được tập hợp lại vì lợi ích chân chính sống còn của mình, vốn là con người hành động đổi mới trong tư cách phong trào vừa là sức ép bắt buộc mọi cơ cấu phải đổi mới.

Đổi mới hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đổi mới công tác Mặt trậnvì một hệ thống chính trị đổi mới, vì một Mặt trậnđổi mới đầy sức sống là một đề thi không đơn giản.

Trần Bạch Đằng

Arrow2 Vài suy nghĩ về mặt trận dân tộc thống nhất
Arrow2 Đổi mới công tác mặt trận tìm đáp số, không đơn giản