Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
Maibuuminh
Nhà Báo Mai Bửu Minh
No-person-img
Nhà báo Minh Huệ, Doãn Chiêu
No-person-img
Nhà báo Ngọc Quang, Viết Thông
No-person-img
Nhà báo Ngọc Tấn
No-person-img
Nhà báo Ngô Thanh
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Đức Tuấn
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Hồng Hải
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Huy Nam
No-person-img NHÀ BÁO NHỊ LÊ

ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CỦA CÁCH MẠNG NƯỚC TA

 

Từ trong trường kỳ lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhất là khi cách mạng vượt qua những khúc quanh co, thăng trầm và tiếp tục phát triển vững vàng đã làm bật lên và sáng ngời chân lý giản dị: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công"1. Đó là một nét son chủ đạo trong hệ thống giá trị phát triển của dân tộc được khái quát trong câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh tại Đại hội hợp nhất Việt Minh- Liên Việt năm 1951. Theo Người, vì lẽ giản dị là: "Đoàn kết làm ra sức mạnh". "Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất của chúng ta"2. Đó là bài học lịch sử vô giá, đối với cách mạng nước ta.
Dưới ánh sáng tư tưởng vĩ đại ấy của Người, từ kinh nghiệm hoạt động và lãnh đạo cách mạng hơn 73 năm, đặc biệt trước yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế thời đại hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo..." Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển3.
Tư tưởng Đại đoàn kết như máu thịt tạo nên dung mạo và bản lĩnh dân tộc ta. Là "đứa con nòi của giai cấp, của dân tộc", tư tưởng đó trở thành một trong những nhân tố căn bản hợp thành bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của Đảng - một Đảng "là đạo đức, là văn minh", "là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no". Và, trong thực tiễn, Đại đoàn kết trở thành truyền thống cách mạng của Đảng; một động lực căn bản và to lớn đối với sự phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Dù trong bất cứ tình huống nào, vấn đề đoàn kết tuyệt nhiên không phải là vấn đề chính trị đơn thuần hay có tính sách lược, nhất thời (!), như ai đó xuyên tạc, rêu rao; trái lại, đó là một quy luật, một nguyên tắc, một nhu cầu tất yếu và động lực của cách mạng và không ngừng được giữ vững và phát huy, trong thời đại mới.
Nền tảng của tư tưởng chiến lược nêu trên là sự kết tinh, hun đúc từ bài học sinh tồn của dân tộc trải mấy nghìn năm được phát triển trên một tầm cao mới, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Năm 1951, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, tám chữ được khắc sâu như một mục đích cao cả và thiêng liêng: "Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc". Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: "... Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn đề xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"4. Nói khái quát như Hồ Chí Minh: "Một là đoàn kết, Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội". Và sự thật, cương lĩnh ấy đã trở thành sức mạnh tinh thần và vật chất không gì phá vỡ nổi của dân tộc ta, dù trong bất cứ bước ngoặt lịch sử nào. Đại đoàn kết, trước hết là đoàn kết trong Đảng, là đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Vì thế, Đại đoàn kết không chỉ là một lời hiệu triệu tràn đầy tư tưởng; mà còn là một lực lượng vật chất vô địch trong hành động của gần 80 triệu đồng bào Việt Nam, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là hơn 16 năm đổi mới vừa qua. Bước vào những thập niên đầu thế kỷ XXI, hơn bao giờ hết, trước sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, toàn thể dân tộc, dưới ngọn cờ của Đảng, phải giữ vững và tiếp tục phát huy tư tưởng và sức mạnh Đại đoàn kết với một quy mô mới, tính chất mới và tầm cao mới. Đó là mệnh lệnh của đất nước, là quyền lợi, là bổn phận của mỗi giai cấp, tầng lớp và mỗi người Việt Nam, vì sự trường tồn và lớn mạnh của dân tộc. Đó cũng là sứ mệnh cao cả một nhân tố quyết định sự thành công và là truyền thống của Đảng. Toàn Đảng, toàn thể dân tộc phải giữ cho Đại đoàn kết tiếp tục là động lực mạnh mẽ và to lớn đối với sự phát triển của đất nước ta, không thể ai chia cắt, không thể gì phá vỡ. Hội nghị lần thứ 7 (phần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, nhận định: Đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Nhưng suy cho cùng, Đại đoàn kết có được nhờ thực hiện hay không, có trở thành động lực to lớn, của sự phát triển đất nước hay không lại tuỳ thuộc vào khả năng và trình độ giải quyết của chúng ta về các mối quan hệ đa chiều, phức tạp trong nội bộ dân tộc và quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới. Cụ thể việc giải quyết các mối quan hệ: giai cấp và dân tộc, cộng đồng và cá nhân, xã hội và gia đình, quốc gia và quốc tế... theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chung quanh vấn đề này, có người nêu câu hỏi: Nếu nói đại đoàn kết là động lực chủ yếu của sự phát triển đất nước ta hiện nay thì điều đó mâu thuẫn với luận điểm mác - xít vẫn cho rằng, đấu tranh giai cấp là một động lực phát triển của xã hội có giai cấp hay không?
Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta không chỉ khẳng định tính tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp mà còn chỉ rõ: "Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc"5.
Sẽ là rất sai lầm, nếu ai đó tuyệt đối hoá đến mức cực đoan coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất của sự phát triển xã hội nước ta hiện nay. Học thuyết Mác chưa bao giờ khẳng định như vậy. Trong sự nghiệp không ngừng giải phóng con người dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các vấn đề tự do, dân chủ, công bằng, văn minh, lợi ích... được đặc biệt chú ý giải quyết đúng đắn đã và đang trở thành động lực to lớn đối với sự phát triển của xã hội ta.
Như vậy, cần hiểu động lực phát triển xã hội của nước ta hiện nay, bao gồm cả hệ thống, thể hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội..., với nhiều cấp độ: động lực cơ bản, động lực chủ yếu, động lực trước mắt, động lực lâu dài... Mỗi động lực có vị trí và vai trò độc lập tương đối, hợp thành một tổng hợp lực thúc đẩy xã hội phát triển. Do đó, việc xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay. Đảng ta muốn khắc sâu và nhấn mạnh vị trí, tầm quan trọng, tác dụng riêng và nổi bật của nó trong mối liên hệ hữu cơ với các động lực khác trong hệ thống động lực, ở nước ta, chứ tuyệt đối không phải là sự mâu thuẫn hay lãng quên vấn đề đấu tranh giai cấp giữ vai trò là một động lực đối với sự phát triển xã hội.
Hơn nữa, trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam hiện nay, cũng giống như trước đây, Đảng ta luôn chủ động xử lý vấn đề đại đoàn kết một cách mềm dẻo, sáng tạo, không chỉ giải quyết linh hoạt các mặt đối lập, khác biệt mà khéo léo quy nạp chúng trong sự thống nhất, tương đồng các nhân tố đó đang vận động trong lòng dân tộc, giữa nước ta với thế giới, trong các mối quan hệ phức tạp, chằng chịt hữu cơ. Để có được sức mạnh tư tưởng và vật chất phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta không ngừng nỗ lực tìm tòi, phát triển và nhân lên những điểm đồng nhất, tương đồng của hàng loạt sự khác biệt, thậm chí đối lập nhau giữa các giai cấp, tầng lớp trong nước vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữa nước ta với nước khác một cách hiệu quả theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá, tôn trọng, bình đẳng và cùng có lợi. Có thể nói, mẫu số chung quy đồng sức mạnh toàn thể dân tộc hiện nay cần thay vì khoét sâu sự cách biệt bằng sự quy tụ, đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của lịch sử trên nền tảng căn bản là sự thống nhất thay thế sự loại trừ, tất cả nhằm hướng tới độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cái đứng trên tất cả các giai cấp, tầng lớp, gia đình, cá nhân... là nền độc lập tự do của Tổ quốc gắn chặt với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng ta khẳng định: Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Mặt khác, giải quyết một cách hài hoà quan hệ giữa nước ta với nước khác theo tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, các bên cùng có lợi, "không gây thù oán với một ai", như Bác Hồ chỉ rõ. Tất cả phải vì sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đó chính là hình thức mới, là nội dung và tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay, chứ không phải là chuyện "đấu tranh giai cấp đã tự nó chết và không còn là động lực phát triển xã hội nữa"(!), như ai đó từng rêu rao.
Nói khái quát, thực hiện đại đoàn kết hiện nay chính là sự tập hợp và giải quyết thành công mọi nhân tố với mọi mối quan hệ khác nhau trong sự thống nhất, quy tụ tất cả các lợi ích khác nhau bằng sự tương đồng để đưa đất nước phát triển đúng hướng xã hội chủ nghĩa nhanh, mạnh và bền vững. Sự thống nhất đó, là nền độc lập tự do của dân tộc; điểm tương đồng đó, là sinh mệnh của chủ nghĩa xã hội. Do đó, mọi biểu hiện đoàn kết theo lối phường hội, cục bộ hẹp hòi hay theo kiểu cát cứ, địa phương chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa đều xa lạ, đều trái với sự tương đồng, đều phá vỡ sự thống nhất của tinh thần đại đoàn kết. Hơn nữa, một cách tự nhiên, đại đoàn kết phải được đặt trên nền tảng mối quan hệ hữu cơ "giữa công nhân, nông dân với trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng". Đó là cơ sở vật chất và tinh thần, là bản chất và đặc trưng của đại đoàn kết; là bảo đảm để phát triển khối đại đoàn kết của chúng ta.
Do đó, một cách tự nhiên, đoàn kết toàn dân tộc phải gắn chặt với đoàn kết quốc tế. Đó là một tất yếu lịch sử, một nhu cầu của nước ta trên con đường xã hội chủ nghĩa, trong thời đại ngày nay. Để thực hiện tốt điều đó, chúng ta không có con đường nào khác, ngoài con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là bài học thứ ba mà Đảng ta tổng kết, sau 15 năm đổi mới. Phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong công cuộc phát triển đất nước, theo lập trường của giai cấp công nhân, nhằm tránh chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cô lập. Chỉ có như thế, chúng ta mới có thể "tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" đưa đất nước "phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững"; mặt khác, "góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".
Đoàn kết quốc tế chính là điều kiện để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của thời đại để phát triển bền vững. Đến lượt nó, đoàn kết dân tộc là tiền đề để thực hiện đoàn kết quốc tế và nâng sức mạnh dân tộc lên tầm cao mới. Đó là biện chứng sự phát triển đại đoàn kết của chúng ta trong thời đại ngày nay.
Nói gọn lại, đại đoàn kết là đoàn kết từ trong Đảng là căn bản tới đoàn kết toàn dân tộc là chủ yếu và đoàn kết quốc tế là quan trọng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văm minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó không chỉ đơn thuần là cương lĩnh chính trị, là bản chất nhân văn đã trở thành truyền thống của Đảng mà còn là sức mạnh hiện thực của đất nước, trở thành đạo lý sống và lối ứng xử của dân tộc Việt Nam chúng ta, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong thời đại ngày nay.
Để biến tư tưởng đại đoàn kết trở thành động lực phát triển đất nước, chúng ta không dừng lại ở chỗ khẳng định nó là động lực tư tưởng; mà trái lại, phải biến động lực tư tưởng ấy thành sức mạnh hiện thực thông qua các thiết chế phù hợp, các phong trào hành động cách mạng toàn dân tộc theo phương châm bảo đảm sự thống nhất, sự tương đồng các mối quan hệ khác nhau thể hiện tập trung trong các lợi ích khác nhau giữa các giai cấp, các tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, cá nhân trong xã hội nước ta với lợi ích của toàn thể dân tộc, trên cơ sở pháp luật và đạo lý truyền thống của dân tộc. Mặt khác, trong quan hệ đối ngoại, phải nắm chắc quan điểm "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Nghĩa là, cần giữ vững quyền độc lập dân tộc, giữ vững con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua sách lược, biện pháp hết sức linh hoạt, mềm dẻo và khôn khéo vừa rất rộng mở vừa rất tỉnh táo, vừa hợp tác vừa đấu tranh, trên nền tảng truyền thống bang giao và luật pháp quốc tế nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong các quan hệ quốc tế.
Đó chính là tiến trình giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài, giữa nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại lực, giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, trên nền tảng pháp lý và truyền thống nhằm vừa bảo đảm độc lập, tự chủ của nước ta vừa tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không thì đại đoàn kết chỉ là một khẩu hiệu suông, không thể trở thành động lực phát triển của đất nước. Và nếu làm trái đi, nó sẽ trở thành phản động lực, kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Trên thực tế, Đảng ta đã và đang bằng mọi phương sách, với một số cố gắng thực tiễn đảm bảo "kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội", "bảo vệ lợi ích nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân", "lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc", "thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch"..."trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo". Đó là quy luật của sự phát triển nội tại mạnh mẽ và bền vững của đất nước hiện nay. Nhưng cần thiết phải nhấn mạnh rằng, đại đoàn kết toàn dân tộc không có nghĩa là đoàn kết xuôi chiều hoặc bảo vệ thời kỳ, tuỳ tiện lợi ích của một giai cấp, một tầng lớp hay một tôn giáo nào đó, làm tổn hại đến bầu không khí đoàn kết chung, phá vỡ tính chỉnh thể lợi ích của cộng đồng dân tộc.
Đồng thời, trong quan hệ quốc tế, chúng ta phải hoạch định cho được chính sách đối ngoại tổng hợp theo phương châm đa phương, đa dạng và năng động, nhằm chủ động hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, thông qua hợp tác và đấu tranh toàn diện. Cụ thể là, "tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào nội bộ công việc của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; bình đẳng cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền", "góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng", vì một thế giới hoà bình, ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, cảnh giác trước mọi âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, không ngừng nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trong cộng đồng quốc tế. Do vậy, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải chỉ đạo, xuyên suốt và điều chỉnh chiến lược đại đoàn kết, xét trong tất cả các quan hệ "hợp tác và đấu tranh", với mọi sự khác biệt và tương đồng về lợi ích giữa các giai cấp và dân tộc, giữa nước ta với nước khác..., trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng..., ở mọi bình diện lợi ích về chính trị, tư tưởng hay vật chất, tinh thần..., thông qua những cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp và hiệu quả nhằm tạo thành "nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước". Dù thế nào cũng phải đảm bảo và tôn trọng các lợi ích trong các mối quan hệ đoàn kết dân tộc hay đoàn kết quốc tế. Bởi nó đóng vai trò là động lực chủ yếu nhất "của toàn bộ lịch sử cuộc đấu tranh giai cấp", mà nguồn gốc vấn đề trước hết là những lợi ích kinh tế mà quyền lực chính trị phải phục vụ với tư cách là phương tiện, như Ph. Ăng - ghen nói. Nghĩa là, phải lấy việc giải quyết tốt vấn đề lợi ích với tư cách là tiêu điểm cơ bản nhất, then chốt nhất, quyết định nhất trong mọi mối quan hệ giai cấp, dân tộc, tôn giáo, quốc gia và quốc tế hết sức đa dạng, phức tạp và chuyển hoá không ngừng giữa chúng với nhau, làm thước đo hiệu quả việc thực hiện chiến lược Đại đoàn kết .
Bởi vậy, chúng ta cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế vận hành thực hiện của hệ thống chính trị nước ta: Đảng lãnh đạo - Nhân dân làm chủ - Nhà nước quản lý nhằm tăng cường sức mạnh thực sự của mỗi nhân tố trong cơ chế đó. Đặc biệt, trong mối quan hệ rường cột ấy, việc không ngừng giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng  "như giữ gìn con ngươi của mắt mình" phải thực sự trở thành tiền đề, nòng cốt, trở thành chỗ dựa và là một bảo đảm cơ bản để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đảng hết sức coi trọng và bảo vệ nó như một quốc bảo thiêng liêng, một sứ mệnh cao cả và một vinh dự vô song. Đồng thời phải giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, tăng cường phát huy quyền làm chủ của nhân dân bằng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không ngừng mở rộng đoàn kết quốc tế theo tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng, các bên cùng có lợi. Thông qua vai trò và sức mạnh của Mặt trận Tổ quốc cũng như các đoàn thể chính trị - xã hội, tạo nên sự nhất trí cao về chính trị - tinh thần, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, dấy lên phong trào hành động cách mạng rộng rãi, toàn diện, sâu sắc, mạnh mẽ và hiệu quả trong nhân dân. Đến lượt Nhà nước, vấn đề then chốt nhất trên phương diện này là, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ chính sách đòn bẩy làm công cụ duy trì, điều chỉnh và bảo vệ tất cả các mối quan hệ trên tầm vĩ mô về công tác đối nội và đối ngoại hiện nay. Đó cũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm tạo nên sức mạnh to lớn và bền vững của dân tộc để tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế một cách mạnh mẽ, sâu sắc, hiệu quả, góp phần củng cố, tăng cường tình đoàn kết quốc tế vì một thế giới hoà bình, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội

Nhị Lê - Tạp chí Cộng sản.

 

Arrow2 Tác phẩm "Động lực phát triển của cách mạng nước ta"