Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Tân Linh
No-person-img
Nhà báo Thanh Xuân
No-person-img
Nhà báo Thảo Lư
No-person-img
Nhà báo Thiếu Gia
No-person-img
Nhà báo Thu Loan
No-person-img
Nhà báo Trần Bạch Đằng
No-person-img
Nhà Báo Trần Hậu
No-person-img
Nhà báo Trần Thanh Phương
No-person-img NHÀ BÁO NGUYỄN THẾ KHOA

HỌ LÀ CỦA TẤT CẢ CHÚNG TA


 
Thế là anh em cựu binh Mỹ nhà Whitehurst đã đến Hà Nội “trong thời gian sớm nhất có thể” như họ đã hứa với gia đình bà Doãn Ngọc Trâm, mẹ của nữ liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm và chị Bùi Ngọc Hiên, vợ nhà quay phim, liệt sĩ Nguyễn Văn Giá. Gần 35 năm nâng niu, gìn giữ hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm và 50 tấm ảnh của Nguyễn Văn Giá, chỉ sau hơn 3 tháng liên lạc được với thân nhân của hai liệt sĩ đối phương năm xưa, Fred và Robert đã gác lại những phiên tòa và những chuyến đi biển (Fred hiện là luật sư và Robert là thuyền trưởng viễn dương) để sang ngay Việt Nam. Họ rất nóng lòng muốn biết thêm nhiều điều về hai con người mà 35 năm qua họ rất ngưỡng mộ, nóng lòng được trở lại mảnh đất Đức Phổ, nơi được họ coi là giống với thiên đường nhất trên trái đất này, nơi giúp họ nhìn thấy vẻ đẹp tuyệt vời của đất nước, con người Việt Nam cũng như sự vô lý của cuộc chiến tranh tàn bạo mà chính phủ Mỹ đã gây ra tại đất nước này…
Ra đón anh em Whitehurst tại sân bay Nội Bài, ngoài gia đình chị Đặng Thùy Trâm và anh Văn Giá, các phóng viên của nhiều báo đài, còn có những nhà văn, nhà báo, nhà quay phim cùng chiến trường khu 5 với chị Trâm và anh Giá năm xưa. Fred và Robert rất vui khi gặp mặt các chị Phương, Hiền, Kim, em của chị Thùy Trâm, cũng như chị Ngọc Hiên, vợ của anh Văn Giá, những người như đã trở thành thân thuộc từ những ngày cuối tháng 4 năm nay qua trao đổi thư từ trên email, nhưng họ rất bất ngờ và Fred đã bật khóc khi biết ra đón họ còn có những người từng cầm súng chống Mỹ trên chính mảnh đất Quảng Ngãi, Đức Phổ thủa nào. PV Mỹ Hằng, báo Lao Động, hỏi ngay Fred: “Vì sao ông lại khóc khi bắt tay những người này”. Fred nhìn cô nhà báo trẻ, nhẹ nhàng nói: “Bạn còn trẻ quá, có lẽ chưa biết chiến tranh là gì, nên chưa hiểu được đâu”. Nhưng ngày hôm sau, có thời gian trò chuyện riêng với Mỹ Hằng khi đến thắp hương bàn thờ anh Nguyễn Văn Giá tại nhà con trai anh, Fred giải thích: “Hôm qua, bạn có hỏi tôi tại sao tôi lại khóc khi nhìn thấy những phóng viên Việt cộng năm xưa ra sân bay đón tôi. Tôi đã nghĩ về điều đó đến tận sáng nay. Tất cả với tôi như một giấc mơ. Những người mà có lúc tôi đã định giết họ, giờ lại bắt tay tôi, mỉm cười thật thân thiện với tôi. Người mẹ có con gái và người vợ có chồng đã hy sinh vì những lính viễn chinh Mỹ như tôi, giờ lại nhận tôi làm con nuôi. Tại sao chúng tôi lại đến đây, lại gây chiến trên đất nước này? Trong chiến tranh, chúng tôi là những người lính, mang trên lưng cái balô đựng đạn dược và thực phẩm, không mở balô ra, chúng tôi sẽ chết. Sau chiến tranh, balô của chúng tôi đầy ắp kỷ niệm và vì cuộc mưu sinh, vì gia đình, vợ con, tôi phải luôn luôn đóng balô lại, bởi nếu mở ra, kỷ niệm sẽ nhấn chìm tôi trong nước mắt. Nhưng khi tới Nội Bài, gặp những người từng là đối phương, cái balô đã tự động bật nắp và tôi không làm sao ngăn nổi nước mắt”.
Kèm theo lời giải thích, Fred đưa cho Mỹ Hằng một bài viết của anh, “Bạn hãy đọc bài viết này của tôi, bạn sẽ biết trong balô của tôi chứa những kỷ niệm gì”. Bài viết của Fred có tựa đề “Hình hài của một cuộc chiến”, trong đó anh kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc hành quân đầu tiên anh tham gia tại Việt Nam, một trận càn đẫm máu của quân đội Mỹ vào một làng quê Đức Phổ, nơi chị Thùy Trâm, anh Giá hy sinh. Chỉ trong 5 trang giấy khổ A4, Fred đã ghi lại dày đặc những điều khủng khiếp nhất của chiến tranh và tội ác mà anh trực tiếp chứng kiến trong trận càn đó, những điều có lẽ bất cứ ai được đọc nó cũng không khỏi kinh hoàng. Kết thúc bài viết của Fred là những dòng hết sức đau đớn: “Tôi vừa đánh đổi sự thanh bình vĩnh cửu lấy hình ảnh một em bé bị nướng chín, một người lính mất trí, một người mẹ chết cháy trong tư thế cánh tay vươn ra đỡ lấy đứa con thơ cũng sắp bị lửa thiêu như mình, tiếng gầm rú của khẩu pháo 20mm và ánh chớp điên cuồng của bom napalm... Giờ đây, tôi đã nhìn thấy rõ. Tôi đã thấy rất rõ. Tôi thấy rất rõ, tôi đã thấy rõ…”
Đọc những dòng hồi ức trên của Fred, ta hiểu vì sao Fred từng tâm sự với chị Kim Trâm qua email rằng sau 3 năm tham chiến ở Việt Nam, trở về nhà, thân thể anh chỉ bị thương chút ít nhưng trái tim thì bị tổn thương nặng nề, thường bị mất ngủ và hay gặp những cơn ác mộng. Và ta cũng hiểu vì sao hai người đàn ông sắp bước vào tuổi 60 như Fred và Robert lại khóc nhiều thế trong một tuần ngắn ngủi trở lại Việt Nam, khi gặp bạn bè, người thân của chị Thùy và anh Giá, lúc trở lại mảnh đất Đức Phổ đầy ắp ký ức tội lỗi trước sự đón tiếp nồng ấm bất ngờ của người dân nơi đây. Trước mộ chị Thùy tại Nghĩa trang Từ Liêm, Fred nấc lên nhiều lần và đập tay xuống đất tấm tức như một đứa trẻ: “Tại sao, tại sao một con người đáng sống như chị lại chết?”. Bên hàng rào dâm bụt ở thôn Thanh Sơn, Phổ Cường, Đức Phổ, nơi nhân dân địa phương cho biết anh Văn Giá đã bị trực thăng Mỹ bắn chết, khi chị Hiên vật vã khóc than, Fred ôm lấy chị trong tay, ràn rụa nước mắt và nghẹn ngào: “Trái tim tôi đang bị vò nát, tôi cũng không chịu đựng được nữa rồi”. Không bộc trực như Fred, Robert tách ra khỏi đám đông, đứng bên một bụi tre, lặng lẽ lau nước mắt. Những giọt nước mắt xót xa, ân hận không cùng, của hai người  Mỹ, trước là kẻ thù và nay đã là những người bạn thân thiết của chúng ta…
Thực ra thì họ đã trở thành bạn của chúng ta trong tâm tưởng, từ 35 năm trước, từ cái ngày mà Fed nhận được quyển nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm từ tay một người lính Ngụy Sài Gòn, thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu, phiên dịch của đơn vị và là bạn thân của anh. Fred vẫn nhớ rất rõ cái ngày đó, tựa như nó chỉ vừa xảy ra. Hôm ấy, đơn vị thám báo của anh nhận được rất nhiều tài liệu thu được của đối phương, sau khi phân loại, giữ lại các tài liệu có giá trị quân sự và chất đống những gì còn lại để thiêu hủy. Trong khi Fred đang đốt tài liệu thì Nguyễn Trung Hiếu đến bên anh, tay cầm cuốn sổ nhật ký của Đặng Thùy Trâm, thì thầm: “Fred, đừng đốt cuốn sổ này, bản thân nó đã có lửa”. Ngạc nhiên trước lời đề nghị của người bạn Việt, một đề nghị rất có thể gây nguy hiểm cho cả hai, Fred tin cuốn sổ này có gì đặc biệt lắm nên Nguyễn Trung Hiếu mới yêu cầu anh giữ lại. Những đêm sau đó, khi được Nguyễn Trung Hiếu bắt đầu dịch cho nghe những dòng nhật ký của chị Thùy, Fred hiểu, đúng như Hiếu nói, cuốn sổ mà anh đang giữ chứa trong nó cả một ngọn lửa lớn, ngọn lửa bừng sáng từ tâm hồn nhân ái, thánh thiện đến tuyệt đối của một phụ nữ ở bên kia chiến tuyến.
Vâng, bây giờ, sau khi nhật ký của Đặng Thùy Trâm được công bố và qua hồi ức của những người đã sống và chiến đấu cùng chị trên mảnh đất Đức Phổ năm xưa, chúng ta đều biết chị Thùy thực sự là một anh hùng. Nhưng từ 35 năm trước, trước hết là Nguyễn Trung Hiếu và sau đó là Fred, đọc được nhật ký Đặng Thùy Trâm, cũng đã ngưỡng mộ chị như vậy, dù khi đó chị là kẻ thù của họ. Fred sau khi có được tập nhật ký, có lần nghe một người lính Mỹ kể về một trận chiến đấu lạ lùng của đơn vị anh ta gồm 120 tay súng với một phụ nữ Việt cộng, người một mình với một khẩu súng bán tự động đã chiến đấu ngăn quân Mỹ để bảo vệ các đồng đội thương binh ở một bệnh xá miền tây Đức Phổ và bị bắn chết vì không chịu đầu hàng, anh nghĩ người phụ nữ anh hùng đó nhất định là tác giả tập nhật ký anh đang giữ. Bởi anh tin rằng, Đặng Thùy Trâm chắc chắn đã chết đúng như chị sống, hoàn toàn không vị kỷ, hoàn toàn dâng hiến. Cái chết của Đặng Thùy Trâm cho đến giờ vẫn còn là một bí mật, nhưng nhiều người cho rằng câu chuyện của Fred về trận chiến đấu cuối cùng của chị là gần với sự thật nhất.
Khi ngồi trên tàu Thống Nhất trở về Quảng Ngãi, ăn cơm nắm muối vừng cùng chúng tôi, những nhà báo, nhà quay phim cùng chiến trường khu 5 năm xưa với anh Văn Giá và chị Thùy Trâm, Fred nói rằng hai cuốn nhật ký của chị Thùy đã giúp anh hiểu được nước Mỹ đưa anh sang Việt Nam là để đánh nhau với ai và khi ấy dù còn rất trẻ, Fred đã mơ hồ cảm thấy nước Mỹ của anh không thể thắng trong cuộc chiến khi đối phương là những con người như chị Thùy, những con người có khả năng chịu đựng bất cứ khó khăn thử thách nào và sẵn sàng chết để bảo vệ tự do của đất nước. Với Fred, một con người hết mực yêu thương đồng loại, biết chiến đấu, hy sinh quên mình vì mọi người, vì Tổ quốc mình như chị Thùy là một con người đặc biệt, một anh hùng không chỉ của Việt Nam mà còn là của thế giới. Fred và Robert từng có ước vọng sẽ xuất bản tập nhật ký để cho thế giới được biết về người con gái kỳ diệu này. Mấy ngày sang Hà Nội vừa qua, được biết thêm tên tuổi, cuộc sống và sự hy sinh của anh Nguyễn Văn Giá, người chủ của 50 tấm ảnh và chiếc máy ảnh Canon bị đạn xuyên thủng ống kính mà Fred đã gìn giữ cùng nhật ký của chị Thùy, thì Fred hiểu rằng anh Giá cũng đặc biệt, cũng anh hùng như chị Thùy Trâm. Theo Fred, không thể nói khác về một nhà quay phim có tài được đào tạo từ Liên Xô, vừa về nước và vừa cưới vợ được ít ngày, đã xung phong ngay vào chiến trường tham gia cuộc chiến đấu của đất nước, khi bệnh tật, đã được cho về Hà Nội điều trị, vẫn xin ở lại thêm, xuống tận Đức Phổ để có những thước phim về vùng đất ác liệt nhất của chiến tranh này và đã hy sinh tại đây, để lại tại Hà Nội người vợ trẻ đẹp và đứa con thơ mà anh chưa biết mặt.
Robert, người anh cả trong gia đình Whithurst, từng là lính hải quân đóng ở đồng bằng sông Cửu Long cùng thời gian Fred ở Việt Nam, có vợ người Long Xuyên, người mà trong suốt một tuần lễ có mặt ở Việt Nam vừa qua lúc nào cũng ôm khư khư trên tay cặp tài liệu có tấm ảnh lớn của chị Trâm ngoài bìa và bên trong là tập nhật ký đã được chính anh dịch ra tiếng Anh và 50 tấm ảnh của liệt sĩ Nguyễn Văn Giá, kể rằng từ khi về nước, cùng đọc và dịch toàn bộ hai quyển nhật ký của Thùy Trâm với em trai mình, anh và Fred dường như đã trở thành những con người khác. Tập nhật ký không những giúp các anh hiểu rõ sự vô lý và gian dối của cuộc chiến mà nước Mỹ gây ra ở Việt Nam, cuộc chiến đã giết những người con gái tuyệt vời như chị Thùy, mà còn đem đến cho họ những bài học sâu xa về lẽ sống và danh dự, về tinh thần trách nhiệm và lòng vị tha, về sự tận tụy, hết mình với sự nghiệp, về tình yêu chung thủy và đức hy sinh, có nghĩa là tất cả những gì cần để một người có thể sống tốt hơn với mọi người.
Riêng với Fred, anh nói chị Thùy có ảnh hưởng rất lớn tới việc anh trở thành một người đàn ông không chịu ngồi yên khi nhìn thấy sai trái và quay lưng lại với sai trái. Người tiến sĩ hóa học và luật sư, cựu binh trong chiến tranh Việt Nam này, từng rất nổi tiếng ở nước Mỹ và thế giới bởi đã dám kiện cả Tổng thống Mỹ, Tổng luật sư, Giám đốc FBI, Bộ Tư pháp, Chính phủ Mỹ và đã thắng trong tất cả các vụ kiện đó.
“Chị là người thầy, người chị của tôi”, Fred đã nói với Tạ Bích Loan trong cuộc đối thoại trong chương trình “Người đương thời” của VTV chiều 9/8/2005 như vậy.
Trong cuộc giao lưu với hơn 1000 thanh niên Quảng Ngãi đêm 12/8, Robert cũng nói với các bạn trẻ Việt Nam rằng chắc chắn mỗi người trẻ tuổi, dù ở bến bờ nào của đại dương, đều có thể tìm thấy trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” những gì thật thiết thân với cuộc sống của mình. Những dòng nhật ký Thùy Trâm viết cho riêng chị nhưng có sức kêu gọi, thức tỉnh tuyệt vời với tất cả mọi người
Trong câu chuyện với chúng tôi tại phòng khách khách sạn Sông Trà trước khi chia tay về lại Hà Nội để bay về nước vào sáng 15/8, Fred lại rưng rưng nước mắt. Anh giở trang cuối tập nhật ký của chị Thùy, chỉ chúng tôi đọc hai câu thơ của chị:
Bây giờ trời biển mênh mông
Bác ơi, bác có thấu lòng trẻ thơ
Đây là hai câu thơ chị Thùy viết vào lúc khó khăn nhất của cuộc đời, ngày 20/6/1970, trước khi chị hy sinh hai ngày. Đó là khi bệnh xá chị phụ trách đã bị lộ, có thể bị tập kích bất kỳ lúc nào, những người khỏe mạnh đã cùng chính trị viên đi tìm địa điểm mớiđã 10 ngày mà chưa trở lại. Bệnh xá chỉ còn chị cùng hai người phụ nữ khác và năm thương binh nặng, nằm bất động. Gạo chỉ còn đủ một buổi cuối cùng. Không thể để thương binh đói, chị buột phải để hai chị Lãnh và Xăng vượt suối đi tìm lương thực. Nhìn hai đồng đội xắn quần lội qua dòng nước chảy, còn lại một mình bên suối, tự nhiên nước mắt chị rưng rưng và bất giác chị đọc lên hai câu thơ đó và viết trong nhật ký những dòng như chà xát trái tim chúng ta: “Không, mình không còn thơ dại nữa, mình đã lớn, đã dạn dày trong gian khổ nhưng sao lúc này đây mình cảm thấy thèm khát đến vô cùng bàn tay chăm sóc của một người mẹ mà thực ra là một bàn tay của một người thân hay tệ hơn chỉ là một người quen cũng được. Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay mình trong lúc cô đơn, truyền cho mình tình thương, sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt”.
Fred trầm ngâm kể: “Tôi nhớ vào năm 1969, khi tôi đang ở căn cứ Cam Ranh thì nghe tin chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Sĩ quan và binh sĩ Mỹ chúng tôi mừng lắm, bởi ai cũng nghĩ nếu Cụ Hồ không còn thì Mỹ ắt sẽ nhanh chóng chiến thắng. Nhưng chúng tôi đã lầm, Việt cộng không những không yếu đi sau khi Cụ Hồ mất mà ngược lại. Khi đọc được nhật ký của chị Thùy, nhìn những tấm ảnh của anh Nguyễn Văn Giá và sau một tuần trở lại Việt Nam thì tôi đã hiểu: Cụ Hồ đã tạo được những lớp người kế tiếp nhau nguyện sống theo tấm gương quên mình vì nước vì dân của Người. Cụ Hồ mất nhưng tinh thần của Cụ bất tử trong tâm hồn và hành động của những Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Giá. Ở khía cạnh này, Việt Nam không chỉ có một Hồ Chí Minh mà có hàng triệu Hồ Chí Minh. Nước Mỹ đã thua có lẽ vì thế”.
Nhà làm phim Neil, người đã theo anh em Whitehurst đến Việt Nam để khởi sự thực hiện một bộ phim “với sự kính trọng và chân thật nhất, sao cho xứng đáng với những gì được biết về chị Thùy Trâm, anh Văn Giá và đất nước Việt Nam”, nói với chúng tôi rằng câu chuyện về cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm và những tấm ảnh của nhà quay phim Nguyễn Văn Giá chưa kết thúc. Theo một nghĩa nào đó, nó chỉ mới bắt đầu, bởi  theo anh, đã và sẽ có rất nhiều người, ở Việt Nam, ở Mỹ và ở nhiều nơi trên thế giới, biết đến những con người này và nhận ra “Họ là của tất cả chúng ta”…

Nguyễn Thế Khoa - Báo Văn hóa

Arrow2 Họ là của tất cả chúng ta