Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Đỗ Quang, Tuấn Hoàng
No-person-img
Nhà báo Đức Tín
No-person-img
Nhà báo Đăng Ngọc
No-person-img
Nhà báo Đăng Trường, Hồng Lĩnh
No-person-img
Nhà báo Bằng Vân
No-person-img
Nhà báo Bùi Phương Hạ
No-person-img
Nhà báo Cảnh Mạnh, Trần Đức
No-person-img
Nhà báo Cẩm Thúy
No-person-img NHÀ BÁO LÊ ĐỨC TIẾT

PHẢN BIỆN XÃ HỘI PHƯƠNG THUỐC CHỮA CĂN BỆNH DUY Ý CHÍ

 

P

hản biện xã hội là một chủ đề được nói đến nhiều trong thời kỳ Đảng, Nhà nước có chủ trương mở rộng dân chủ. Khi người dân ý thức được quyền dân chủ và đòi hỏi thực hiện dân chủ thực sự thì hơn lúc nào hết khái niệm, mục đích, yêu cầu, đối tượng cụ thể, cơ chế, trình tự phản biện xã hội cần có sự thống nhất về hình thức, về hành động trong toàn Đảng, toàn Nhà nước và toàn xã hội.
1. Khái niệm, mục đích, yêu cầu:
Có thể định nghĩa một cách tóm tắt rằng, phản biện là việc dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó hoặc dùng chứng cứ lập luận để bác bỏ lại sự phản biện đã nêu ra sau đó. Về mặt triết học, phủ định sự khẳng định hoặc phủ định sự phủ định chính là sự phản biện. Phản biện được thực hiện bằng hai dạng hành động cơ bản là biện luận và phản biện hoặc chứng minh hoặc chứng minh ngược lại. Biện luận và phản biện luận là phương pháp tư duy thịnh hành của con người trong thời đại bùng nổ các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Phản biện không có chỗ đứng trong xã hội khi mà chế độ vương quyền, chuyên chế còn ngự trị.
"Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" thường dành để ca tụng lời nói, thơ văn của vua. Nói trái với ý vua là phạm tội nặng! Con phản bác cha, vợ phản bác chồng, cấp dưới phản bác cấp trên, học trò phản bác thầy - trong xã hội cũ, bị coi là điều trái lễ.
Dưới chế độ cách mạng, phản biện cũng không được ưa chuộng khi còn tệ sùng bái cá nhân, độc quyền, độc đoán, mất dân chủ. Ý thức hệ phong kiến chỉ thích ca tụng, tâng bốc và rất đố kỵ với phản biện.
Phản biện khác với sự góp ý, bổ sung, nhận xét, phê bình, kiến nghị trong các cuộc hội nghị, sinh hoạt tập thể. Khi phản biện, người phản biện phải hội tụ đủ các luận cứ thực tiễn, khoa học để phản bác lại dự án, dự thảo chủ trương, chính sách, kế hoạch được nêu ra. Nếu bên biện luận không phản biện không thuyết phục được bên biện luận. Khi góp ý, bổ sung, nhận xét, phê bình, kiến nghị không đòi hỏi người góp ý, phê bình phải có đủ căn cứ thực tiễn, khoa học để chứng minh. Bên được phê bình, góp ý, kiến nghị, bổ sung không nhất thiết bắt buộc chấp nhận.
Phản biện khác với sự phản kháng, phản đối, chống đối. Hình thức của phản biện được giới hạn ở sự tranh luận. Trong phản biện không có sự xung đột, mâu thuẫn về lợi ích. Mục đích của phản biện là xem xét các vấn đề:
- Từ nhiều góc độ khác nhau để có cái nhìn tổng thể, toàn diện và khách quan;
- Từ nhiều cách làm khác nhau mà so sánh để tìm ra cách làm hợp lý nhất, tiết kiệm nhất để đạt được kết quả tốt nhất, rẻ nhất, nhanh nhất;
- Để đảm bảo sự hài hoà giữa các lợi ích: Lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích quốc gia với lợi ích tập thể, lợi ích bộ phận và lợi ích cá nhân.
Trong phản biện không phải khi nào người phản biện cũng giữ vai trò là người phản bác. Trong trường hợp tán thành, người phản biện không những có thể mà phải nêu ra các chứng cứ lập luận để chứng minh tính đúng đắn của chủ trương, kế hoạch... Phản biện, trong tính hiện thực của nó, là cách động viên mọi người hăng hái phát huy sáng kiến, tích cực chủ động tham gia, đóng góp sức mình vào công tác quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Đó là cách mở rộng dân chủ để thực hiện dân chủ thực sự  đối với nhân dân.
Sự khác nhau cơ bản giữa phản biện với phản đối, chống đối, phản kháng ở mục đích, hình thức và biện pháp thực hiện. Phản đối chống đối, phản kháng xẩy ra khi có mâu thuẫn gay gắt hoặc đối kháng về quyền lợi. Do vậy, hình thức, biện pháp của phản đối, chống đối, phản kháng thường được thể hiện dưới nhiều hình thức như: biểu tình, tẩy chay, bất hợp tác, bao vây, hoặc làm những biện pháp cực đoan khác.
Cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa phản biện với phản đối, phản kháng, chống đối bất hợp pháp mà những thế lực thù địch hay lợi dụng để tiến hành các cuộc cách mạng sắc màu.
II. Đối tượng, chủ thể phản biện.
Có hai loại phản biện:
1. Phản biện khoa học là loại hình phản biện đã được thực hiện ở nước ta khi tiến hành nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có quy chế rõ ràng, đầy đủ với loại hình phản biện khoa học là các khám phá, khám phá về mặt khoa học chưa được công bố. Chủ thể phản biện khoa học là các nhà khoa học. Tiêu chí để công nhận tính đúng đắn trong phản biện khoa học là sự phù hợp của biện luận với tính quy luật phổ biến của khách quan và được chứng minh bằng những phương pháp và điều kiện thử nghiệm giống nhau, hoặc bằng các biểu đồ thống kê. Các thử nghiệm dù được làm ở bất cứ thời gian nào đều cho kết quả giống nhau. Mục đích của phản biện khoa học là đảm bảo hành động phù hợp với quy luật của tự nhiên và của xã hội, tránh được căn bệnh duy ý chí. Chủ thể của phản biện khoa học chỉ là các nhà khoa học.
2. Phản biện xã hội là loại hình mới được đề cập trong thời gian gần đây. Đối tượng của phản biện xã hội có thể là những chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch cụ thể phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hay từng địa phương, như: kế hoạch xây dựng các công trình thuỷ điện, kế hoạch xây dựng các khu công nghiệp, các dự án pháp luật, kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai, phát triển đô thị, các khu dân cư, các dự án chăn nuôi, trồng trọt... Mục đích của phản biện xã hội là đảm bảo quyền lợi tối đa và lợi ích hài hoà của Tổ quốc và nhân dân. Trong phản biện xã hội, hoàn toàn có thể dùng các tiêu chí của phản biện khoa học để chứng minh sự phù hợp hay không phù hợp với lợi ích. Hơn nữa, nếu biết sử dụng kết quả phản biện khoa học vào phản biện xã hội thì sẽ có sức thuyết phục cao khi phản biện xã hội, người phản biện phải chỉ ra được sự phù hợp với lợi ích hoặc bất lợi, bất hợp lý, các nguy cơ tiềm ẩn, các thiệt hại sẽ xẩy ra nếu như dự án, chương trình được đem ra thực thi. Chủ thể của phản biện xã hội bao gồm:
1/ Người biện luận khẳng định, cũng có thể là người bảo vệ. Họ là đại diện cơ quan nhà nước, hoặc đại diện của tổ chức đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, hoặc cá nhân, những người làm chủ dự án, hoặc đại diện của các cơ quan soạn thảo dự án pháp luật.
2/ Người phản biện tức là người biện luận phủ định. Họ có thể là các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực chịu sự tác động của dự án, đại diện của Mặt trậnhoặc các thành viên Mặt trậnhoặc đại diện của các tổ chức nghề nghiệp, hoặc đại diện của nhân dân sinh sống trong khu vực hoặc làm các nghề có liên quan đến dự án, các đối tượng chịu sự điều chỉnh của dự án luật...
III. Cơ chế, trình tự tiến hành phản biện
Qua nhiều năm, đất nước ta đã thấm thía về những thiệt hại không nhỏ trên nhiều mặt mà nhân dân phải hứng chịu do căn bệnh duy ý chí, do tệ quan liêu độc đoán, mất dân chủ gây ra trong công tác hoạch định các chương trình, kế hoạch phát triển mà không qua sự phản biện khoa học, phản biện xã hội hoặc có phản biện nhưng không kỹ càng, nghiêm túc. Nguyên nhân thì có nhiều. Trong đó có nguyên nhân là thiếu sự quy định về pháp luật. Để việc phản biện bao gồm phản biện khoa học và phản biện xã hội được tiến hành một cách nghiêm chỉnh, thì việc phản biện phải được đảm bảo thực hiện bằng cơ chế rõ ràng về pháp luật. Trong phạm vi toàn quốc hay từng địa phương cho đến tận xã phường, những vấn đề gì bắt buộc phải có sự phản biện xã hội trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, trước khi đem ra thực thi thì phải có sự quy định cụ thể của pháp luật. Văn bản thể hiện nội dung, trình tự, kết luận của phản biện là văn bản bắt buộc phải có và kèm theo với toàn bộ hồ sơ của dự án khi trình lên các cơ quan có thẩm quyền xem xét. Hình thức phản biện nhất thiết phải được thể hiện bằng văn bản theo những mẫu nhất định. Văn bản phản biện cũng có thể là biên bản ghi chép ý kiến của hội nghị của nhân dân.
Ngoại trừ những chương trình. Kế hoạch có liên quan đến bí mật quốc gia, tất cả các dự án cần được sớm công bố công khai bằng những phương tiện thông tin đại chúng để thu hút sự quan tâm của quần chúng càng rộng càng tốt. Việc khuyến khích, động viên đông đảo các nhà khoa học, đông đảo nhân dân, quần chúng tham gia phản biện đối với dự án cũng như việc tâp hợp đầy đủ trung thực ý kiến góp ý hoặc phản biện của quần chúng cũng phải được quy định rõ trong luật.
Có một thực trạng đã xẩy ra trong nhiều năm nay, là các dự án pháp luật được gửi lấy ý kiến các cơ quan có liên quan hoặc nhân dân trong thời gian quá gấp. Gấp đến mức không đủ thời gian để đọc hết tài liệu, đây là biểu hiện của bệnh dân chủ hình thức. Không phải là không có thời gian. Về mặt tư tưởng, quan điểm, cơ quan soạn thảo không nên lo sợ các ý kiến phản biện. Trái lại, họ phải tạo ra mọi điều kiện thuận lợi cho bên phản biện hiểu sâu, hiểu kỹ dự án. Việc phản biện do vậy sẽ được tốt hơn.
IV. Vai trò, trách nhiệm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các thành viên Mặt trận trong thực thi phản biện xã hội.
Trong hoàn cảnh lịch sử chỉ có một Đảng cầm quyền như ở nước ta thì vai trò, trách nhiệm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các thành viên trong phản biện xã hội trở nên hết sức cần thiết, bởi những lý do sau đây:
1. Theo quy luật của tư duy, mọi sản phẩm tư duy dù là của những bậc siêu phàm đưa ra mà không được phản biện thì không thể tránh khỏi những thiếu sót, phiến diện. Không có ai là toàn năng, toàn diện. Không có ai mà điều gì cũng biết, điều gì cũng hiểu sâu. Bởi vậy, thông qua phản biện, từ nhiều góc nhìn, từ nhiều cách tiếp cận, cách làm khác nhau để tìm ra phương án tối ưu. Điều không có lợi sẽ tránh được. Điều lợi ít sẽ trở thành điều lợi nhiều. Sai lầm, thiếu sót sẽ được giảm thiểu. Điều đúng sẽ được khẳng định. Tất cả đều được công bố công khai để mọi ngừơi đều biết tất cả những yếu tố này sẽ tạo được sự phấn chấn, hăng hái, quyết tâm trong thực thi sau này.
Do những điều kiện lịch sử quyết định ở nước ta chỉ có một đảng cầm quyền. Không thể phán xét một cách võ đoán rằng chế độ một đảng cầm quyền là không dân chủ. Trên thế giới, ngoài Việt Nam, còn có những nước khác chỉ có một đảng cầm quyền - Xingapo là một ví dụ. Chế độ một đảng có nhiều cái lợi, nhưng cũng có nhiều điều bất cập nếu không biết khắc phục. Với chế độ một đảng cầm quyền thì các chủ trương, chính sách thường bị nhìn nhận là sản phẩm tư duy của một cực, nghĩa là đơn cực. Để ngăn ngừa và khắc phục có hiệu quả bệnh quan liêu, độc đoán, mất dân chủ và cùng với nó là nạn lãng phí, tham nhũng thì hơn đâu hết  việc phản biện xã hội ở nước ta cần phải được pháp luật hoá, cần trở thành quy định bắt buộc mà toàn Đảng, toàn Nhà nước phải nghiêm chỉnh tuân theo. Mở rộng dân chủ mà không có cơ chế phản biện một cách nghiêm túc thì không thể có dân chủ thực sự. Phản biện xã hội chính là phương thuốc đặc trị để chữa bệnh duy ý chí.
2. Phản biện xã hội, về thực chất đó là sự phản biện của nhân dân. Nhân dân thực hiện phản biện xã hội với hai tư cách:
- Với tư cách là người chủ, nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với mọi hoạt động của Nhà nước. Bằng hình thức phản biện xã hội, nhân dân sẽ có điều kiện tốt hơn để thực hiện quyền giám sát hoạt động của Nhà nước.
- Với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước, nhân dân có quyền phản biện đối với các chương trình, kế hoạch của Nhà nước để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình mà cơ quan nhà nước chưa quan tâm một cách đầy đủ. Bằng hình thức phản biện xã hội, quyền Hiến định của nhân dân tham gia công tác quản lý Nhà nước sẽ trở thành hiện thực chứ không chỉ tồn tại về mặt lý thuyết.
Thực hiện phản biện xã hội do vậy không những sẽ mang lại nhiều lợi ích về mặt vật chất mà còn có những ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc. Nó làm cho đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của đất nước ta ngày càng trở nên phong phú, sinh động.
3. Tại Việt Nam, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các thành viên Mặt trận là những tổ chức có sự liên kết chặt chẽ, rộng rãi, có những điều kiện thuận lợi để thu hút đông đảo nhân sĩ, tri thức, chuyên gia trong nước và người Việt định cư ở nước ngoài, huy động đại diện cho các tổ chức quần chúng tham gia công tác phản biện xã hội một cách tập trung nhất và có chất lượng nhất. Không ai có thể thay thế Mặt trận Tổ quốc làm tốt hơn công tác phản biện xã hội. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cần coi trọng công tác phản biện xã hội là công tác trọng tâm trong thực hiện chức năng Hiến định của Mặt trận là giám sát hoạt động của các cơ quan và cán bộ viên chức Nhà nước. Nếu Mặt trận không thực hiện tốt công tác phản biện xã hội thì điều đó có nghĩa là Mặt trậnchưa thực hiện đầy đủ vai trò nhiệm vụ của Mặt trận đã được pháp luật quy định.
5. Mạnh dạn thực hiện và khuyến khích việc phản biện xã hội.
Đã có ý kiến bày tỏ sự lo ngại rằng trình độ dân trí nước ta hiện nay chưa đồng đều, nhiều nơi còn thấp nên phản biện xã hội còn hạn chế vào một số chủ đề nhất định, ở những cấp nhất định!
Cũng có ý kiến cho rằng trong tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp nếu mở rộng phản biện xã hội thì rất dễ có nguy cơ bị các lực lượng thù địch lợi dụng để xúi dục dân chúng phản đối, phản kháng, chống đối gây mất ổn định xã hội ở nước ta.
Những sự quan ngại trên đây không phải là không có lý do. Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta phải hết sức cảnh giác trước những âm mưu thâm độc của kẻ địch. Nhưng không phải là điều đáng sợ khiến chúng ta không giám mạnh dạn thực hiện phản biện xã hội như Nghị quyết Đại hội Đảng X đã nêu ra là "Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội".
Như nếu ở mục I, những chủ đề vượt ra ngoài khuôn khổ, hoặc trái với Nghị quyết Đại hội Đảng, trái với hiến pháp, trái với luật hiện hành thì không được đưa ra để phản biện. Sửa đổi Cương lĩnh, Điều Lệ, Nghị Quyết Đảng phải do Đại hội Đảng quyết định. Sửa đổi hiến pháp hoặc Luật thì phải do Quốc hội quyết định.
Phải nói rằng, nhân dân Việt Nam đã được thử thách và trưởng thành rất nhiều qua cuộc đấu tranh lâu dài trên tất cả các mặt trận; quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng với kẻ thù  bên trong và bên ngoài. Có thể tin tưởng một cách chắc chắn rằng nhân dân Việt Nam không phải là những người dễ bị mua chuộc, dễ bị lừa phỉnh.
Thời gian qua có một vài "điểm nóng" đã xẩy ra. Các cuộc kiểm điểm rút kinh nghiệm được tiến hành ngay sau đó cho thấy tình trạng mất cân bằng dân chủ nghiêm trọng là nguyên nhân  của vụ việc. Tại những nơi đó chưa hề có sự phản  biện xã hội. Cho nên không có lý do để lo ngại kẻ địch sẽ lợi dụng nếu như tiến hành phản biện xã hội.
Vì những lợi ích thiết thân trước mắt và lợi ích lâu dài mai sau của Tổ quốc và điều cốt yếu nhất là để quy tụ được lòng dân trăm họ về một mối, để giữ gìn sự đoàn kết toàn dân, toàn Đảng, toàn Nhà nước thì vấn đề phản biện xã hội cần sớm được pháp luật hoá và thực hiện một cách nghiêm túc và phổ biến vào đời sống  mọi mặt của xã hội Việt Nam.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các thành viên Mặt trậnhơn lúc nào hết và hơn ai hết phải đứng ra gánh vác và làm tốt việc phản biện xã hội - một nhiệm vụ hết sức khó khăn, nhưng rất vinh quang mà nhân dân, Đảng, Nhà nước đã uỷ thác.

Lê Đức Tiết - Tạp chí Mặt trận

Arrow2 Tác phẩm “Phản biện xã hội - phương thuốc chữa trị căn bệnh duy ý chí”