Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Đỗ Phượng
No-person-img
Nhà báo Đỗ Quang, Tuấn Hoàng
No-person-img
Nhà báo Đức Tín
No-person-img
Nhà báo Đăng Ngọc
No-person-img
Nhà báo Đăng Trường, Hồng Lĩnh
No-person-img
Nhà báo Bằng Vân
No-person-img
Nhà báo Bùi Phương Hạ
No-person-img
Nhà báo Cảnh Mạnh, Trần Đức
No-person-img NHÀ BÁO LÊ BÁ TRÌNH

PHÁT HUY NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ CÁC TÔN GIÁO ĐỂ XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

T

rong giai đoạn cuộc kháng chiến dành độc lập dân tộc trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng cơ bản và có ý nghĩa chiến lược để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng. Trong khối đại đoàn kết toàn dân ấy, tôn giáo gắn liền với  một bộ phận quần chúng nhân dân. Thực hiện tốt công tác đoàn kết tập hợp các tôn giáo là yêu cầu cấp thiết để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay.
Về nhận thức và hành động, việc nắm vững quan điểm của  triết học Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta trong quá trình hoạch định cũng như thực hiện các chính sách, chủ trương về công tác tôn giáo sẽ phát huy tính tích cực của tôn giáo, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, tâm linh của xã hội, đồng thời ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Khai thác những điểm tương đồng về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội với khát vọng giải phóng con người của các tôn giáo trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá, tinh thần, đạo đức, tâm linh của nhân dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc là một trong những yêu cầu cơ bản của sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.
1. Sinh thời, khi bàn về nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những điểm tương đồng về mục tiêu giải phóng con người giữa cách mạng Việt Nam và các tôn giáo, Người viết: "Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Giật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện của nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm sau họ còn sống trên đời này, nếu họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết". Người khẳng định: "Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc và cũng để giữ gìn tín ngưỡng tự do".
- Với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong điều kiện hiện nay là: Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới (Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị). Cụ thể hơn, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 7 (khoá IX) ghi rõ “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc..., Nhìn chung, các tổ chức tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước".
Điều 5 của Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo khẳng định Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng, phát huy giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên. Tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tâm linh và đời sống tinh thần của nhân dân.
2. Việt Nam là một nước đa dân tộc và đa tôn giáo, ngoài những tín ngưỡng, sinh hoạt tôn giáo mang tính chất bản địa, vùng, miền của từng dân tộc khác nhau, hiện nay nước ta đang tồn tại 6 tôn giáo có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần, tâm linh của các tín đồ, đó là: Phật giáo, Công giáo, Cao đài (nhiều hệ phái), Tin lành, Hồi giáo và Phật giáo hoà hảo. Ngoài ra, có một số tôn giáo khác mới được Nhà nước công nhận là có tư cách pháp nhân trong đời sống xã hội. Dù có hệ thống giáo lý, pháp luật và phương thức hành đạo khác nhau nhưng mục tiêu, khát vọng chung của các tôn giáo là giải phóng con người ra khỏi hoàn cảnh khổ ải của chốn trần gian, cầu mong một cuộc sống tốt đẹp ở Thiên đàng, cõi Niết bàn… Sau khi du nhập vào Việt Nam, với truyền thống yêu nước, giữ nòi và bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam, chức sắc và tín đồ các tôn giáo đã có sự chọn lọc, thích nghi và hoà nhập những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo vào đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt Nam.
Những giá trị đó được thể hiện ở giáo lý và phương châm hành đạo của  các tôn giáo như sau:
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu của công nguyên và hình thành nhiều môn phái: phái Tini Đa lưu chi, phái Thảo đường, phái Trúc lâm (Yên Tử)… Từ đó đến nay, ở bất kỳ thời nào, Phật giáo Việt Nam cũng luôn gắn bó, đồng hành cùng bước đi của dân tộc và đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ở khía cạnh tích cực văn hoá, đạo đức của Phật giáo phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức của dân tộc ta.
Trong Mười điều răn đạo đức của đạo Thiên Chúa (Công giáo và Tin lành). Có 5 điều răn dạy tín đồ như sau: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi để được sống lâu, và để được hạnh phúc trên đất và Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, ban cho ngươi; ngươi không được giết người; ngươi không được ngoại tình; ngươi không được trộm cắp; ngươi không được làm chứng dối hại người; ngươi không được ham muốn vợ người ta; ngươi không được thèm muốn nhà của người ta, đồng ruộng, tôi tớ, nam nữ, con bò, con lừa hay bất cứ vật gì của người ta”.
Giáo  lý của đạo Cao Đài quy định người tín đồ phải khắc kỷ, tu thân, kiềm chế các ham muốn, trái đạo đức truyền thống; biết trân trọng sinh mạng của mình cũng như của tha nhân; không tham lam, buông thả theo hành vi lường gạt, vì lợi ích cá nhân mà mưu hại người, không sa đà theo bóng sắc, không quan hệ tình dục ngoài hôn nhân; không ham mê rượu thịt quá độ làm mất nhân cách của mình và say sưa nhiễu loạn cộng đồng; cẩn trọng trong ngôn từ, không phát ngôn nếu không hội tụ đủ điều kiện chân chánh, xây dựng và hữu ích cho cái chung…
Giáo lý (học phật tu nhân) của Phật giáo Hoà hảo dạy người tín đồ trau sửa thân tâm cho trở nên thiện mỹ, giải thoát khỏi sự mê mờ của vô minh đau khổ, đồng thời cũng đào tạo một mẫu người hoàn hảo, khi còn sống trong cộng đồng xã hội. Ở điều răn cấm thứ nhất trong 8 điều răn của Phật giáo Hoà hảo: “ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý tam cương ngũ thường”. Quan niệm về trách nhiệm của Phật giáo Hoà hảo đối với đất nước Việt Nam là: “Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh dàu, mình ta mới ấm. Hãy tuỳ tài, tuỳ sức nỗ lực hy sinh cho xứ sở".
Giáo lý của Hồi giáo (Islam - Việt Nam) nghiêm cấm tín đồ thực hành mê tín dị đoan, xì ke- ma tuý; dùng các chất kích thích làm mê muội không tự chủ được bản thân  như: rượu chè, ma tuý, mãi dâm, nếu vi phạm sẽ bị tội rất lớn với thượng đế Allah ở ngày phán xét sau. Vì thế, mỗi tín đồ Muslim đều phải xa lánh những hành vi không lành mạnh nói trên để khỏi bị sự trừng phạt của thượng đế Allah trong ngày phán xét sau này. Và vì thế trong cộng đồng dân tộc Chăm Hồi Islam ít ai vướng vào các căn bệnh do tệ nạn xã hội gây nên. Haji Machadares – Samael (Hj. Idris – ismail), Phó ban Thường trực Ban đại diện Cộng đồng Hồi giáo thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Riêng về đạo Hồi giáo (Islam) trong quy định của giáo lý, giáo luật Islam tương đồng với các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phòng chống tệ nạn ma tuý, mãi dâm - những con đường chính dẫn đến nhiễm HIV/ AISD”.
3. Sự tương đồng giữa mục tiêu, khát vọng của các tôn giáo và nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá, đạo đức của chủ nghĩa xã hội  thể hiện rõ nhất thông qua những hành động tích cực của chức sắc và tín đồ các tôn giáo: Ngoài những hoạt động nhân đạo, từ thiện, văn hoá, đạo đức của các tôn giáo đang tổ chức khắp nơi, ngày 17 – 2 – 2005, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã tổ chức buổi cầu nguyện của liên tôn giáo dành cho những người nhiễm HIV/AIDS với sự tham gia của tín đồ và chức sắc các tôn giáo: Công giáo, Phật giáo, Cao đài, Tin lành, Hoà hoả, Hồi giáo. Đặc biệt trong các ngày 27, 28 và 29 – 11- 2006, tại thành phố Huế đã diễn ra một sự kiện đặc biệt trong đời sống của cộng đồng đồng bào các tôn giáo ở Việt Nam: 6 tôn giáo lớn (Công giáo, Phật giáo, Cao đài, Tin lành, Hoà hảo, Hồi giáo) đã ngồi lại  với nhau để bàn các giải pháp cùng với Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngăn chặn đại dịch HIV/ AIDS và công bố Bảng cam kết chung với nội dung chính như sau:
“Chúng tôi, đại biểu các tôn giáo từ khắp mọi miền của Tổ quốc Việt Nam thân yêu đã gặp nhau tại cố đô Huế trong Hội nghị phát huy vai trò các tôn giáo trong phòng, chống HIV/ AIDS từ ngày 27 – 28- 11- 2006. Tại Hội nghị, chúng tôi đã dân chủ thảo luận và thống nhất Cam kết hành động nhằm hưởng ứng và thực hiện Luật phòng chống HIV/AIDS và lời kêu gọi toàn dân tham gia phòng chống HIV/AIDS của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, những người sống chung với HIV/AIDS, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ trong công tác phòng chống HIV/AIDS với các nội dung sau đây:
Tăng cường, củng cố nền tảng đạo đức gia đình Việt Nam; phát huy những giá trị tích cực của các tôn giáo; xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh; giữ gìn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc góp phần ngăn chặn sự lây lan của HIV/ AIDS…
Chúng tôi, với tư cách cá nhân và là lãnh đạo của các tôn giáo lấy làm vinh dự được đóng góp cho bản Cam kết chung này. Chúng tôi đề nghị công bố rộng rãi bản Cam kết này để đạt được sự đồng thuận và ủng hộ giữa các tôn giáo các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và toàn thể xã hội nhằm đưa những cam kết này thành hành động cải thiện cuộc sống của những người lớn và trẻ em nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS…
Cam kết này là sự biểu hiện sâu sắc trong truyền thống sống “Tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc” của các tôn giáo Việt Nam trong thời kỳ mới, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, an bình, hạnh phúc”.
Trong điều kiện phức tạp hiện nay của tình hình thế giới, hiếm thấy có một quốc gia nào có những biểu hiện sinh động về tinh thần và hành động đoàn kết giữa các tôn giáo để cùng với hệ thống chính trị chăm lo cho sự phát triển của đất nước như vậy.
4. Phương hướng phát huy điểm tương đồng trong mục tiêu, khát vọng của các tôn giáo và chủ nghĩa xã hội để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở Việt Nam hiện nay:
- Vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm, tư tưởng triết học Mác – Lê Nin, của Hồ Chí Minh và của Đảng ta vào công tác tôn giáo (vận động, quản lý hoạt động, xử lý các vấn đề tôn giáo…) hiện nay. Nhiệm vụ này mang tính nguyên tắc trong suốt quá trình thực hiện công tác tôn giáo nếu không thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ dẫn đến những hành động hữu khuynh trong quá trình công tác, ảnh hưởng đến việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân.
- Tạo ra sự đồng bộ về nhận thức và hành động của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong quá trình giải quyết các vấn đề về tôn giáo. Nhiệm vụ này quy định trách nhiệm của mỗi cá nhân, thành viên trong hệ thống chính trị là phải nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo được cụ thể hoá bằng chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật của Nhà nước. Cán bộ nói chung và cán bộ làm công tác tôn giáo phải hiểu biết về giáo lý, giáo luật, quy tắc sinh hoạt, đặc điểm về tín ngưỡng… của các tôn giáo. Trên cơ sở các công cụ pháp lý và những hiểu biết đó mà có sự đồng bộ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, tránh tình trạng thiếu đồng nhất giữa các ngành, các cấp gây ra những hiểu lầm, bức xúc không đáng có từ phía các tôn giáo.
- Các tổ chức trong hệ thống chính trị phải làm tròn chức trách của mình về công tác tôn giáo:
Các cấp Uỷ đảng phải xác định  việc lãnh đạo công tác  tôn giáo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có tính chất chiến lược để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; thường xuyên nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về các chủ trương, đường lối của Đảng và của cấp uỷ địa phương đối với công tác tôn giáo trên cơ sở đó tạo ra sự đồng bộ trong lãnh đạo và điều hành.
Các cấp chính quyền làm tốt trách nhiệm quản lý  nhà nước về công tác tôn giáo trên địa bàn. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo phải lấy sự ổn định xã hội làm mục tiêu chính, trên cơ sở những quy định của pháp luật  vừa tạo mọi điều kiện cho các tôn giáo hợp pháp hoạt động vừa làm tốt nhiệm vụ chống việc lợi dụng tôn giáo trong bất kỳ tình huống nào khi giải quyết những vụ việc về tôn giáo.
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong công tác vận động tôn giáo. Do đặc điểm về tổ chức và hoạt động, các tôn giáo thường có một khoảng cách nhất định trong mối quan hệ với cấp Ủy đảng và chính quyền, nhưng Mặt trận và các đoàn thể lại có những mối tương quan, gắn bó với các tổ chức tôn giáo ở một số mặt hoạt động xã hội (hoạt động nhân đạo, từ thiện, các cuộc vận động xây dựng đời sống tinh thần, văn hoá, hoạt động về giới, lứa tuổi…) Hơn thế nữa, Mặt trận là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân, nên Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội phải thực sự là cầu nối giữa các tôn giáo với cấp uỷ đảng, chính quyền.
Phát huy những yếu tố tích cực của các tôn giáo trong đời sống xã hội đi đôi cùng với nhiệm vụ chống địch lợi dụng tôn giáo. Luôn khơi dậy và phát huy những mặt tích cực trong hoạt động, sinh hoạt của các tổ chức tôn giáo hợp pháp như nội dung giáo dục đạo đức, đời sống văn hoá tinh thần tốt đẹp trong kinh sách, nghi lễ tôn giáo đối với tín đồ; các hoạt động văn hoá lễ hội cứu trợ nhân đạo, từ thiện thuần tuý tôn giáo, nêu gương những bậc tu hành, những tín đồ có hành động yêu nước, những vị chân tu thực hiện tốt  phương châm “ tốt đời đẹp đạo…”  Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo thực hiện trách nhiệm của mình trong hoạt động và hướng dẫn tín đồ hành đạo, tránh tính trạng lợi dụng sự thiếu hiểu biết  về chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước để hoạt động sai trái hoặc tránh né trách nhiệm của mình. Đồng thời luôn luôn cảnh giác và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những tổ chức, cá nhân  lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để  gây chia rẽ khối đoàn kết toàn dân chống phá sự nghiệp cách mạng, sướng khổ cùng nhau, sống chết có nhau, cùng nhau mưu cầu hạnh phúc chung cho đất nước và dân tộc Việt Nam ta, đồng thời chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện đoàn kết xuôi chiều, theo lối phường hội, cục bộ hẹp hòi hay địa phương chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa… theo như lời dạy của Người.
Nếu như trong nội bộ một số dân tộc hay giữa các dân tộc có những bất hoà, thiếu đoàn kết nhất trí… thì cấp trên có trách nhiệm phải đi thực tế tìm rõ sự việc và nguyên nhân, giải quyết cho “thấu tính, đạt lý”, hãy vì mục tiêu đoàn kết, khuyên nhau nhân nhượng, xoá bỏ bất hoà, hướng tới tương lai. Ai đã qua giáo dục nhiều lần mà cố tình chống phá, phạm pháp, gây hậu quả nghiêm trọng thì phải xử lý nghiêm minh.
Cùng với việc làm trên, phải nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch bằng cách: vạch rõ những âm mưu và hành động  của địch đã và đang lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng, các tư tưởng tiêu cực trên chống phá ta; động viên đồng bào các dân tộc tự giác đấu tranh làm sao bảo vệ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc và an ninh của Tổ quốc, không để địch tranh nhân dân, phân hoá được địch. Thêm được bạn, bớt được thù vừa đấu tranh và đánh thắng chúng trong  mọi tình huống.
Đó là, đi đôi với việc giáo dục chính trị, đấu tranh tư tưởng, chống địch, các cấp và các ngành, quân và dân các dân tộc cần tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị và các dân tộc vững mạnh, kết hợp hài hoà sự phát triển từng dân tộc với sự phát triển chung của quốc gia đa dân tộc, sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc...
Giải quyết vấn đề dân tộc, thực chất và cốt lõi là vấn đề lợi ích. Ngày nay, lợi ích dân tộc rất đa dạng, phức tạp. Trong khả năng cho phép, chúng ta phải tạo điều kiện và giải quyết lợi ích chính đáng của các dân tộc. Kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia, là tạo niềm tin của đồng bào các dân tộc với Đảng, Bác Hồ là thực hiện bình đẳng và đoàn kết  thực sự giữa các dân tộc. Chỉ có giải quyết tốt lợi ích thì mới có niềm tin, khi có niềm tin là có tất cả. Chính lợi ích và niềm tin là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong chính sách dân tộc, tạo nên sức mạnh và động lực phát triển sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới của cách mạng.

Lê Bá Trình - Tạp chí Mặt trận

Arrow2 Phát huy những điểm tương đồng của chủ nghĩa xã hội và các tôn giáo để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc