Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Thế Hoàng
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Thế Khoa
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Văn Nghĩa
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Xuân Hoài
No-person-img
Nhà Báo Nguyên Thủy
No-person-img
Nhà báo Nhị Lê
No-person-img
Nhà báo Ninh Viết Giao
No-person-img
Nhà báo Phan Hữu Dật
No-person-img NHÀ BÁO HOÀNG NGHIỆP

CAO NGUYÊN ĐÁ NẶNG TÌNH QUÂN DÂN

 

C

ái rét Hà Giang ngọt như vết cắt của đá khía vào da. Điểm đầu tiên tôi đặt chân là Đoàn kinh tế - Quốc phòng B14. Tưởng đâu vùng toàn đá trắng sẽ vắng mầu xanh, nhưng không, mầu xanh của lúa, của ngô, của hương bạc hà đang dần chế ngự núi non trùng điệp. Sẽ chẳng có gì để viết nếu ai không có lòng kiên nhẫn cùng người lính vào từng thôn, bản, đến từng nóc nhà tìm hiểu cuộc sống người dân. Đã 8 giờ sáng vậy mà vẫn mù mịt, đặc quánh sương trời, tôi muốn gặp một vài anh em trong Đoàn nhưng họ đi vắng hết, đi từ lúc gà cất tiếng gáy đầu tiên. Đói thì ăn đường, mệt ngủ lại nhà dân. “Ầy dà, bộ đội đi giúp dân thôi, đi sớm thế mới kịp”. Đại tá, Chính uỷ Giàng Seo Sào nói một câu đậm chất đồng bào. Khi tìm hiểu kỹ, tôi thật sự khâm phục bộ đội. đất canh tác ít, không có điều kiện chăn nuôi vì quân số thường xuyên vắng vậy mà lúc nào trâu, bò, lợn, gà cũng đầy chuồng, rau xanh kín vườn…Song, hiệu quả lớn nhất là các anh đã vận động thành công người Mông đưa cây ngô xuống chân núi đã để trồng. Cách làm đó đã giúp đồng bào thoát nghèo, xoá bỏ dần hủ tục lạc hậu.
Năm 2005, Đoàn B14 được thành lập. Nơi họ dừng chân là Bản Xín Mần thuộc xã Xín Mần (huyện Xín Mần). Tứ bề núi đá cao bao bọc, chỉ có một thung lũng nhỏ vừa đủ cho mấy nóc nhà dựng tạm. Mùa khô gần như quanh năm, lúc nào cũng thiếu nước. Không ai nói một lời nhưng trong thâm tâm những người lính trẻ biết rằng mình phải nghĩ cách đối phó sự khắc nghiệt này. Vượt lên khó khăn vừa để khẳng định mình, vừa mong làm sống lại vùng đá trắng. Cái lán đầu tiên dựng lên cũng là lúc bộ đội được đưa nguồn nước trên khe núi về. Nước chảy nhỏ giọt tí tách, phải tiết kiệm nếu không sẽ không đủ sinh hoạt. Bộ đội lấy đá kè thành bờ ao, bên trong lót và trải ni-lông giữ nước. Vùng này đá tai mèo nhấp nhô ken kín nhau, các anh lại nghĩ cách: lấy đất đổ vào hốc đá trồng ngô, trồng rau, như vậy đất không bị trôi. Mỗi hốc đá một cây ngô. Cách làm này không mới so với đồng bào Mông. Họ làm thế hàng nghìn năm rồi, di cư đi nơi khác cũng làm thế, người mới chuyển về cũng làm thế. Bí thư Đảng uỷ xã Vàng Văn Khún và bà con thấy bộ đội làm thì bảo nhau: “Bộ đội cũng giống bọn mình cả thôi, một năm đất không đủ cho một quả ngô ăn đâu, toàn cùi đấy”. Chính uỷ Giàng Seo Sào chống cuốc suy tư. Anh là người Mông sinh ra ở Lao Chải (huyện Vị Xuyên) cùng gia đình làm như vậy mà cái đói vẫn về. Từ ngày đi bộ đội, được bồi dưỡng học tập, trình độ văn hoá nâng cao, anh thấy cách làm của người Mông rất đúng, rất hay và phù hợp nhưng cái họ thiếu là kiến thức, không có kiến thức như người mù lội sông. Giờ thấy đồng bào nói lời chân thật lòng anh bộn bề trầm ngâm. Có lẽ anh là người hiểu đồng bào mình hơn ai hết, anh biết đến 6 thứ tiếng các dân tộc, người như anh rất thuận lợi cho việc tuyên truyền, vận động. Và anh cùng cán bộ, chiến sĩ quyết tâm thực hiện bằng được điều mình nghĩ. Việc đầu tiên là làm cho dân tin. Lúc bộ đội mới đặt chân, thung lũng này toàn đá, sau vài tháng nó đã được phủ lên màu nâu của đất. Khắc hẳn với bà con, các anh không cho từng vốc đất vào mỗi hốc đá mà mà lấy đá quây thành ô để tăng diện tích đổ đất. Đó là sự lạ đầu tiên ở bản Xín Mần. Lúc đầu là một mảnh sau đó là toàn bộ thung lũng đã kín đất. Phía dưới là ao đầy nước. Tìm khắp thung lũng cũng chẳng có cái ao nào nhiều nước hơn thế. Đi bản vận động bà con, Chính uỷ Giàng Seo Sào chỉ nói một câu: “Muốn hết đói phải đưa được đất và nước về cao nguyên đá này” nhưng chẳng có ai tin, kể cả trưởng, phó thôn bản cũng vậy. Họ cũng đưa đất về rồi còn lấy nước từ trời, khi nào có mưa thì trồng ngô, hạn hán thì cả nhà di cư đi nơi khác kiếm ăn, thành ra nó là cái cũ có tính quy luật, nghèo đói cứ dai dẳng bám chặt từng nóc nhà.
Mùa ngô đầu tiên của bộ đội lá xanh mướt, cây mập như cán cuốc. Bà con đi nương qua ai cũng dừng lại ngắm một tý. Ông vàng A Khia chưa bao giờ thấy cây ngô to như vậy. Ông về bảo với dân bản: “Tao thấy bộ đội trồng ngô trên đá tốt lắm”. ”Không ai tin đâu”. “Thật mà, xuống xem đi”. Lúc cây ngô trổ cờ, bộ đội dùng giấy cuộn lại thành hình cái phễu, lại dùng tay gạt phấn của nó vào đó đổ lên râu ngô. Đó là sự lạ thứ hai của bản Xí Mần. Khi làm bộ đội mời bà con đến xem và nghe giải thích. Người dân thì ngóng chờ ngày thu hoạch. Rồi ngày đó cũng đến. Đó là một buổi sáng đẹp trời, bà con chen chúc. Họ thấy lạ quá, vì chiều qua cả nương ngô còn cao quá đầu, vậy mà sáng nay, phần ngọn đã bị phạt ngang chỉ còn trơ lại bắp và phần dưới của thân. Có cây được hai bắp to bằng nhau, chắc nịch như nắm đá, cầm không cũng trĩu tay, hạt đều tăm tắp chen nhau lòi ra cả vỏ. Chờ mọi người đông đủ, Chính uỷ Giàng Seo Sào mới giải thích cặn kẽ từng việc làm và hai điều dân cho là lạ. Anh nói bằng tiếng Mông nên bà con dễ hiểu. Bộ đội thích nói ít làm nhiều và lấy thành quả làm thước đo lời nói. Như vậy, thì bà con tin quá, không tin sao được khi những vụ sau bộ đội không chỉ trồng ngô trên đá mà còn trồng rau trên đá, chăn nuôi trên đá, nuôi cá trên đá cũng với cách làm tương tự. Vậy là đơn vị từ chỗ thiếu rau ăn, thiếu thực phẩm giờ thì đã đủ. Nhiều bà con tự nguyện đến nhờ bộ đội hướng dẫn cách trồng trọt, chăn nuôi. Có người còn mang gà, lợn xuống đổi rau, đổi ngô của bộ đội. Những sản phẩm các anh làm ra đã giải quyết phần nào khó khăn của công tác hậu cần nơi mảnh đất mà bao năm vật nuôi và cây trồng đều chết bởi khí hậu quá khắc nghiệt và sự thiếu hiểu biết của bà con. Tưởng rằng mọi chuyện sẽ suôn sẻ nhưng đúng là làm thay đổi cả nếp nghĩ đã ăn sâu và trở thành phong tục tập quán thì vô cùng khó khăn. Người Mông quen sống trên núi cao, để đến từng hộ cũng mất nửa ngày đi bộ. Đã có nhiều đoàn công tác tới vận động bà con “hạ sơn” song họ không nghe. Nếu có xuống cũng chỉ thời gian ngắn sau đó là trở lại núi. Người Mông trên núi đá cao quen rồi, đói cũng sống, rét chẳng đi, tư tưởng đã chế ngự nếp nghĩ. Con cái lớn, tách khỏi gia đình lại “thống lĩnh” những mỏm đá khác. Đói, nghèo, lạc hậu luôn là là đặc trưng đồng hành. Những người lính Đoàn B14 lại đau đáu nỗi niềm trăn trở, chỉ khi nào đồng bào xuống núi thì cuộc sống mới khá dần lên. Người và cây ngô phải xuống cùng một lúc mới được. Sống trên cao thiếu nước, thiếu đất, độ dốc lớn, xếp đá thì đá cũng tự lăn và đất lại xô theo. Và họ đã làm được. Thôn Sán Cuốn Sủ, 100% là dân tộc Mông sinh sống. Trước kia cuộc sống vô cùng gian nan, vất vả. Nhiều hộ không đủ ngô xay nấu màn mén. Nghe lời bộ đội, họ đã xuống núi và đẩy lùi được cái nghèo ra khỏi bản. Bộ đội chỉ tay từng người, nói cụ thể cách làm. Bằng tình cảm, trách nhiệm các anh đã tuyên truyền, vận động bà con canh tác theo phương pháp mới, tiến bộ. Qua một vụ, hai vụ rồi nhiều mùa lúa nặng trĩu bông, nhà nào cũng có thóc mẩy bám đầy khói bếp. Thực hiện phương châm “Người Mông dạy cho người Mông làm” nên hầu như ở bản nào cũng xây được mô hình điển hình tiên tiến để bà con tự truyền thụ kinh nghiệm cho nhau.
Giờ đây cuộc sống trên cao nguyên đá Xín Mần đã khác rất nhiều so với trước. Sáng sáng là hình ảnh vợ chồng người Mông dắt ngựa thồ hàng, trên vai trĩu nặng quẩy tấu ngô lúa mang đi bán. Nhưng họ không phải đến những phiên chợ nằm cheo leo nơi đỉnh đèo xa tít hay thung lũng hun hút gió ngàn, mà bán luôn cho bộ đội. Bộ đội bán lại rau, đỗ tương cho đồng bào.

Hoàng Nghiệp - Báo Nhân dân

Arrow2 Cao nguyên đá nặng tình quân dân, đăng Báo Nhân Dân.