Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Thế Khoa
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Văn Nghĩa
No-person-img
Nhà báo Nguyễn Xuân Hoài
No-person-img
Nhà Báo Nguyên Thủy
No-person-img
Nhà báo Nhị Lê
No-person-img
Nhà báo Ninh Viết Giao
No-person-img
Nhà báo Phan Hữu Dật
Phambanhieu
Nhà báo Phạm Bá Nhiễu
No-person-img NHÀ BÁO HÀ VĂN THỊNH

TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

S

ức mạnh của một cộng đồng hay một dân tộc tuỳ thuộc rất nhiều vào mức độ cố kết, gắn kết của chính nó, nhất là khi phải đương đầu với những thách thức lớn lao của lịch sử xã hội. Bài viết này cố gắng tìm khía cạnh mới về một đề tài mà hầu như ai cũng biết, đó là chiến lược đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn núi lớn nhất trong dãy núi điệp trùng của thời đại Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng duy nhất của Đảng ta, của dân tộc ta. Nền tảng tư tưởng ấy là một hệ giá trị, một hệ quy chiếu để  từ đó chúng ta tiếp tục thực hiện mục tiêu đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo vì cái đích đi tới dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ngược dòng lịch sử, điều chúng ta dễ nhận thấy là con đường ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc được bắt đầu từ đòi hỏi tìm biết sức mạnh về đoàn kết. Người đã nói: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy". Người còn nói rằng, "đoàn kết... là vấn đề mà tôi quan tâm hơn hết và do đó mà tôi đã tìm ra còn đường đúng", về mặt ngữ nghĩa của ngôn từ thì "Tự do", "Bình đẳng" và "Bác ái" là những mỹ từ gợi cảm. Mà một xã hội trong đó có chứa đựng một sự thật như vậy là một xã hội hoà thuận, yên bình. Đương nhiên, sự gắn kết giữa con người trong xã hội ấy là một xã hội đại đồng tươi đẹp.
Từ năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã nói đến vấn đề đại đồng. Trong bài Phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc viết rằng: "Khổng Tử vĩ đại khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản". Ở đây, quan niệm về đoàn kết như là một nguyên tắc; tuy nhiên nó vẫn còn chung chung, chưa thật đầy đủ. Phải chờ đến hai năm sau, năm 1921, hai chữ đoàn kết mới xuất hiện chính thức, đầu tiên trong bài phong trào cách mạng ở Ấn Độ của Nguyễn Ái Quốc: "Người giàu, người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo, đều hợp sức đoàn kết". Nhận định trên giống như một lời tiên tri. Nếu chúng ta đọc lại bài viết này của Nguyễn Ái Quốc thì sự đánh giá này càng rõ ràng hơn... Cách đặt vấn đề của Nguyễn Ái Quốc cho phép ta rút ra những nhận xét nhỏ: 1) Cái đe doạ và nguy hại nhất của đoàn kết là xung đột, mâu thuẫn từ hai vấn đề chủ yếu: mâu thuẫn giai cấp (người giàu, người nghèo) và mâu thuẫn tôn giáo. 2) Cuộc cách mạng của bất kỳ dân tộc nào cũng phải nhận thức rõ vấn đề này. Ấn Độ chỉ là một trong những biểu hiện nổi bật của khả năng đoàn kết đó. 3) Cả hai bài đều nói lên sự quan tâm đặc biệt của Nguyễn Aí Quốc đối với vấn đề đoàn kết quốc tế.
Năm 1920, vấn đề đoàn kết chỉ mới được giới hạn trong phạm vi giải quyết các quan hệ giữa con người với con người. Phải đến năm 1921, lý luận đoàn kết trong quan điểm Nguyễn Ái Quốc phát triển thành một nguyên lý với nội hàm lớn và toàn diện, đó chính là đoàn kết giai cấp. Điểm đáng chú ý là, đoàn kết giai cấp được Nguyễn Ái Quốc đặt làm tiêu đề bài viết, và coi đây là vấn đề nguyên tắc, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong bài viết này, khi bàn về cuộc bãi công của công nhân hàng hải ở Bra - xin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định đoàn kết giai cấp sẽ là động lực đầu tàu của toàn bộ sức mạnh đoàn kết dân tộc; rằng trên đời cũng chỉ có  một mối tình hữu ái là thật thà mà thôi: tình hữu ái vô sản.
Từ những dẫn liệu trên, cho phép chúng ta kết luận rằng, đối với Nguyễn Ái Quốc, cứu nước là đoàn kết, cách mạng là đoàn kết. Nó không chỉ là hai mặt của vấn đề về cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà giống như "hai cánh của con chim" bay thẳng tới  bầu trời tự do của Tổ quốc.
Đoàn kết có thể là sự đồng hành, là tinh thần thường trực trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu trong những tháng, năm cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp, vấn đề đoàn kết là điều trăn trở, thôi thúc cần kêu gọi và xây dựng, thì sau khi hoà bình lập lại, nó vẫn tiếp tục là trọng tâm, là vấn đề đặc biệt, là mối quan tâm thường xuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đây ta thử tìm xem trong quãng thời gian từ ngày 22/7/1954 đến ngày 14/6/1955 - năm đầu tiên sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dận Pháp, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến đoàn kết thế nào?
Tổng số bài viết, điện văn, trả lời phỏng vấn trong thời gian này của Hồ Chí Minh là 118 bài. Trong số đó, số văn điện, trả lời phỏng vấn có nhắc đến vấn đề đoàn kết là 33 bài (chiếm 38.94%), còn lại 85 bài Hồ Chí Minh viết và nói với Đảng và các tầng lớp nhân dân ta. Như vậy, vấn đề đoàn kết chủ yếu được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với nhân dân trong nước. Tuy nhiên, ta cũng hiểu rằng, trong ngôn ngữ ngoại giao, hai chữ đoàn kết thường được thay thế bằng các từ như tình hữu nghị, mối quan hệ chặt chẽ...
Cũng cần nhấn mạnh, số lượng 38.94% trên đây đủ chứng minh rất rõ quan điểm xuyên suốt của Người về đoàn kết quốc tế quan trọng đến mức nào!
Trong 85 bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã có những khẳng định cụ thể khác nhau về tầm quan trọng của đoàn kết. Có khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đoàn kết là sức mạnh của Đảng; Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết (Hồ Chí Minh nhấn mạnh); ở mỗi chỗ khác Người lại cho rằng đoàn kết là lực lượng vô địch của chúng ta. Đặc biệt, không ít lần, Người lưu ý phải thật thà đoàn kết...
Đoàn kết, theo Hồ Chí Minh, là một vấn đề chiến lược; không phải là một thủ đoạn chính trị, trong đó đoàn kết giữa Đảng với nhân dân là quan trọng nhất. Bởi vì, đó là nền gốc của đại đoàn kết. Người cũng lưu ý chúng ta phải tránh cho bằng được hai nguy cơ: cô độc hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc. Bài nói chuyện tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc ngày 10 - 1 - 1955, có thể coi là một trong những biểu hiện mẫu mực của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết. Chỉ có hơn 500 từ, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã 19 lần nhắc đến hai chữ Đoàn Kết. (!) Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, qua 85 bài viết và nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến cụm từ đoàn kết đến 137 lần. Đó là một tỷ lệ rất lớn trong bối cảnh của một vị Chủ tịch nước và luôn phải bàn đến, trăm công ngàn việc. Đây là  một số liệu mà người viết bài này đã "chọn" ra rất tình cờ vì lẽ không đủ thời gian để thống kê toàn bộ cả 12 tập của Hồ Chí Minh toàn tập có bao nhiêu lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến hai tiếng thiêng liêng: đoàn kết
Trong 8 tháng của năm 1969, tổng số bài được lưu giữ là 35, có 42 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn đến hai từ đoàn kết. Điều đáng chú ý nhất là trong bài phát biểu cuối cùng (18/7/1969) và trong Di chúc; đoàn kết được Người nhắc tới 7 và 8 lần! Thậm chí ngay cả những điều mong muốn cuối cùng trong Di chúc của Người, thì đoàn kết cũng là mong muốn thứ nhất: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới (tác giả nhấn mạnh). Tư tưởng Hồ Chí Minh về Chiến lược đại đoàn kết trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người và nhất là trong năm 1969, bước đầu có thể nêu ra được một số kết luận sau đây:
Thứ nhất, sức mạnh của dân tộc, sự ổn định và phát triển chỉ có thể được nếu không ngừng tăng cường đoàn kết. Đặc biệt, thời kỳ hoà bình lại càng phải quan tâm nhiều hơn. Bởi vì, những bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi, địa vị hầu như không đáng kể  trong chiến tranh thì đến thời hoà bình lại trở thành nguy cơ rất lớn mà Hồ Chí Minh đã không ít lần nhắc đến: nguy cơ từ "viên đạn bọc đường". Sự đoàn kết trong đảng cầm quyền là cái xương sống của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Muốn đoàn kết được, phải thẳng thắn phê bình mọi biểu hiện sai trái. Trong cuộc gặp mặt cuối cùng trước đông đảo quần chúng - gặp các đồng chí lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Các báo đăng bài của công nhân phê bình, thế là tốt. Báo Lao Động nên mở rộng mục này cho quần chúng phê bình trên báo. Cuộc đấu tranh này không dễ dàng, bởi vì nó là cuộc đấu tranh đầy phức tạp và nhạy cảm, trong đó có cả sự đấu tranh với chính bản thân của mỗi con người.
Thứ hai, khi Hồ Chí Minh nói: Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình; một mặt Người nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đoàn kết trong nội bộ đảng, mặt khác nó phản ánh rằng, Người đã thấy rõ khối đoàn kết trong Đảng "đã và đang có vấn đề". Lảng tránh thực tế này, hoặc không dám nhìn thẳng vào sự thật là một cách nhìn không thật sự khoa học và có thể sẽ tạo ra không ít những sai lầm. Bất kỳ đảng phái nào cũng luôn tiềm tàng nguy cơ chia rẽ, tình trạng bè phái. Ngăn chặn và thường xuyên "trông chừng" nguy cơ đó và loại bỏ nó là một nhiệm vụ thuộc về nguyên tắc tối cao của Đảng.
Thứ ba, không hề ngẫu nhiên khi những dòng chữ cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là viết thư cho Tổng thống Mỹ R.Nich - Xơn khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của Việt Nam đang trong giai đoạn gay go, ác liệt nhất. Vậy mà, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy, chuẩn bị trước cơ sở để xúc tiến mối quan hệ Việt - Mỹ nói riêng, tình đoàn kết với nhân dân Mỹ nói chung. Dường như Hồ Chí Minh đã nhìn thấy rõ sự thật rằng: thế giới ngày càng phát triển, loài người càng gần gũi thì việc duy trì đoàn kết càng khó khăn, phức tạp. Đoàn kết quốc tế chỉ có được khi ta có thực lực, bởi "thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn"
Thực lực không chỉ giới hạn trong sức mạnh của dân tộc mà còn là sự hoá giải đúng và đủ các quan hệ với các nước lớn. Hoà khí hay đoàn kết quốc tế, trước hết và luôn phải là đoàn kết nội bộ, từ đó củng cố được mối quan hệ bền vững, hiệu quả với các cường quốc khác.
Hai ngàn năm trước, với Nho học, Khổng Tử đã vẽ nên một con mắt cho rồng văn minh Trung Hoa, một biểu tượng văn hoá của dân tộc này. Ba mươi bảy năm trước đây, trước lúc "đi xa", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò chúng ta rằng đoàn  kết phải là con ngươi của con mắt, của toàn bộ sức mạnh Việt, hồn Việt. Thuyết Đại đồng của Khổng Tử dựa trên cơ sở của cái chung chung. Hai chữ bác ái của người Pháp còn là những mỹ từ trừu tượng, mông lung khi chủ nghĩa thực dân còn đang say sưa đi xâm lược và mở rộng thuộc địa. Câu mở đầu của tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là: Vô sản các nước, đoàn kết lại! Lê Nin đã phát triển thành: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một chân lý rõ ràng và được mở rộng theo một trình tự phát triển từ con người của cộng đồng tới giai cấp và vượt ra ngoài giai cấp; vượt qua mọi khác biệt về tôn giáo, chính kiến, xuyên suốt và bao trùm tất cả mọi mối quan hệ; lấp lánh suốt thời gian và toả sáng mọi không gian.

Hà Văn Thịnh - Tạp chí Cộng sản

Arrow2 Tác phẩm “Tìm hiểu về chiến lược đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh”