Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
No-person-img
Nhà báo Phan Hữu Dật
Phambanhieu
Nhà báo Phạm Bá Nhiễu
No-person-img
Nhà báo Song Thành
No-person-img
Nhà báo Tân Linh
No-person-img
Nhà báo Thanh Xuân
No-person-img
Nhà báo Thảo Lư
No-person-img
Nhà báo Thiếu Gia
No-person-img
Nhà báo Thu Loan
No-person-img NHÀ BÁO ĐỖ PHƯỢNG

ĐẢNG CẦM QUYỀN VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT

 

Í

t tuần nay thế giới xôn xao về cuộc đấu tranh giành quyền lực ở Cộng hoà liên bang Đức. Đây là cuộc đương đầu giữa Đảng Dân chủ Xã hội, đảng cầm quyền với Liên minh dân chủ Thiên Chúa giáo và Liên minh xã hội Thiên Chúa giáo cùng một số đảng phái nhỏ khác. Sự đánh đổi chức vị Thủ tướng của đảng đối lập lấy 8 ghế bộ trưởng của đảng cầm quyền thất cử được dàn xếp một cách không dễ dàng. Cùng thời điểm này là cuộc đấu tranh giành quyền lực theo chế độ tổng thống ở nước Cộng hoà Ba Lan; ở vòng 2, dù chỉ suýt soát 50% cử tri đi bầu, người ta vẫn có được vị Tổng thống mới. Ở Nhật Bản, Thủ tướng Koizumi đã thắng lợi vang dội khi ông táo bạo giải tán Quốc hội và đảng của ông đã giành thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử nghị viện để có thể mạnh tay thực hiện cương lĩnh chính trị và kinh tế của mình. Trong khi đó, một cuộc trưng cầu dân ý thông qua hiến pháp trong bom đạn, đổ máu với sự hiện diện của cả trăm ngàn quân đội nước ngoài ở Irắc cũng đã kết thúc.
Phạm trù “đảng cầm quyền” xuất hiện cùng với sự sụp đổ của các vương triều phong kiến và sự ra đời của chế độ tư bản ở một số quốc gia có nền công nghiệp bước đầu phát triển. Nhưng ngay sau khi thiết lập chế độ mới, các thế lực chính trị với các xu hướng khác nhau nhanh chóng phân hoá thành các tổ chức đảng phái đối lập nhau, có thể thông qua bầu cử mà thế lực chính trị giành thắng lợi trở thành đảng cầm quyền hoặc thông qua bạo lực, xung đột vũ trang để giành lấy quyền. Tuy nhiên cho đến giữa thế kỷ XX, tuyệt đại bộ phận các quốc gia vẫn nằm trong chế độ thuộc địa hoặc nửa thuộc địa cùng các hoàng gia, chính phủ hoặc tổng thống bù nhìn.
Sẽ không khách quan nếu không ghi trong dấu son lịch sử thế kỷ XX, cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga mà các Xô Viết công nông binh giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônxêvích Nga, khẳng định Nhà nước do Đảng Cộng sản của Lênin sáng lập và lãnh đạo là nhà nước có chế độ dân chủ cao nhất so với bất cứ thể chế dân chủ nào. Nhà nước được thiết lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bônxêvích như nói trên đã là nguồn cổ vũ không chỉ cho những người lao động mà cho tất cả các lực lượng cách mạng và dân chủ trên toàn thế giới, kể cả các dân tộc thuộc địa. Nhưng tệ quan liêu, xa rời dân và bệnh kiêu ngạo tự mãn cùng sự xuất hiện của các xu hướng cơ hội chủ nghĩa đã dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước Xô viết cùng các đảng cộng sản cầm quyền ở một loạt nước Trung và Đông Âu. Những thế lực chống cộng và một số người nghiên cứu khoa học xã hội đã có những nhận xét sai lạc và đổ mọi tội lỗi vào chế độ độc quyền lãnh đạo của các đảng cộng sản. Những năm cuối 80 đầu 90 của thế kỷ trước, không ít những lực lượng chính trị quốc tế chuyển mũi nhọn nhằm tiến công vào các đảng cộng sản còn đang cầm quyền, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất phát từ những điều kiện lịch sử đặc thù, ngay trong Sách lược vắn tắt được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ trong Điều 4 rằng: Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt kéo họ vào với giai cấp vô sản. Đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải tranh thủ, chí ít làm cho họ đứng trung lập. Từ tinh thần đó, ngay từ khi thành lập, Đảng ta luôn luôn quan tâm, có chính sách và hình thức tổ chức Mặt trận dân tộc Thống nhất trong các thời điểm lịch sử với các tên gọi khác nhau. Năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng, thành lập Mặt trận Việt Minh. Và Mặt trận Việt Minh nhanh chóng trở thành tổ chức hiệu triệu và tập hợp mọi lực lượng yêu nước đứng lên chống Pháp, chống Nhật. Mặt trận Việt Minh trở thành ngọn cờ động viên nhân dân thực hiện thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 trong cả nước.
Diễn biến của quá trình cách mạng sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định Mặt trận Việt Minh đã không còn phù hợp để tập hợp rộng rãi mọi lực lượng của dân tộc. Người đã chủ động và nhiệt thành mời nhiều nhân vật tiêu biểu của đất nước gia nhập hàng ngũ lãnh đạo đất nước. Ngay trong Chính phủ lâm thời, các nhà lãnh đạo của Đảng và của Việt Minh dần dần rút khỏi các cương vị thành viên Chính phủ. Thay vào đó là các bậc đại quan của triều Nguyễn, các nhân sĩ, trí thức tiêu biểu cho các vùng, miền, các tôn giáo, các dân tộc thiểu số... Với cả những nhân vật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến trước sẽ không thể đi theo cách mạng lâu dài như cựu hoàng Bảo Đại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và một số khác, Người vẫn chủ trương tranh thủ dẫu chỉ tạm thời, nhưng cố gắng hạn chế hoạt động có hại cho cách mạng của họ.
Vừa lãnh đạo toàn dân giành được chính quyền, thực chất đã thành đảng cầm quyền nhưng do tình hình cách mạng thay đổi, vì nghĩa lớn dân tộc, có lúc Đảng Cộng sản đã tuyên bố tự giải tán, để rút vào hoạt động bí mật. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương chân thành hợp tác, giao thực quyền cho các nhân vật được mời tham gia các cương vị lãnh đạo đất nước. Nhiều quyết sách đối nội và đối ngoại quan trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều trực tiếp bàn bạc trước với các nhân vật tiêu biểu ngoài đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đích thân chọn lựa từng cán bộ, đảng viên có phong cách hoặc có mối quan hệ gần gũi từ trước để phân công làm việc thường xuyên hoặc từng công việc cụ thể với các nhân sĩ ngoài đảng. Chính sách Mặt trận của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là chân thành, linh hoạt, rộng mở mà không hình thức. Cũng vì vậy mà Hội Liên hiệp quốc dân thành lập không bao lâu thì đã thống nhất với Mặt trận Việt Minh thành Mặt trận Liên Việt. Kể từ năm 1945, khi Đảng tuyên bố tự giải tán, Đảng ta vẫn không ngừng phát triển tổ chức và phát huy vai trò lãnh đạo. Sáu năm sau, khi cuộc chiến tranh chống quân đội viễn chinh Pháp bước vào thời kỳ mới, ở khắp các làng xã trong cả nước, các chi bộ của Đảng đã thực sự trở thành linh hồn của cuộc chiến đấu ở mỗi cơ sở. Chính trong tình hình đó, các đảng bộ ở các địa phương được phép lần lượt tuyên bố ra công khai và Đảng quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II và đổi tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam, công khai thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đảng công khai lãnh đạo cách mạng không những không làm suy giảm vai trò Mặt trận dân tộc Thống nhất mà càng làm nổi bật vai trò của Mặt trận trong việc tổ chức động viên toàn dân kháng chiến. Chính nhờ đó mà Đảng nhanh chóng phát hiện những khuyết điểm lệch lạc của những cán bộ, đặc biệt là sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Lại một lẫn nữa, Đảng xem lợi ích của nhân dân và lợi ích của cách mạng là trọng, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lỗi trước nhân dân, trước Đảng. Tổng Bí thư Trường Chinh từ chức, bằng sự nghiêm khắc phê bình, thực hành kỷ luật nghiêm trong Đảng và chân thành thực hiện sửa sai nên tình hình nhanh chóng ổn định trở lại. Vai trò lãnh đạo của Đảng vì thế càng được toả sáng trong lòng nhân dân. Không chỉ các nhân sĩ trí thức đã đi theo kháng chiến mà cả những nhân sĩ trí thức và chủ các doanh nghiệp ở vùng mới giải phóng đều tập hợp và đoàn kết chặt chẽ chung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam.
Cuối năm 1959, khi Trung ương Đảng xem xét kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về phát triển kinh tế xã hội ở miền Bắc, thì cũng đồng thời quyết định đường lối cách mạng giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất đất nước. Việc đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quan tâm là thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam với việc bố trí những nhân sĩ tiêu biểu, có sức hiệu triệu và tập hợp nhân dân toàn miền Nam, như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát... Khi phong trào cách mạng toàn miền Nam ở các đô thị phát triển sôi động, lập tức có sáng kiến thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam do luật sư Trịnh Đình Thảo đứng đầu tập hợp đông đảo lực lượng thứ ba, đẩy kẻ thù vào thế ngày càng bị cô lập chính trị. Một lần nữa, có thể khẳng định chính sách Mặt trận của Đảng đã đạt tới giá trị và hiệu quả lớn. Đây chính là một trong những yếu tố cơ bản tạo tiền đề cho thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc vào ngày 30-4-1975.
Trong buổi nói chuyện ngoài giờ với một nhóm cán bộ chủ chốt Ban Tuyên huấn Trung ương vào đầu những năm 60, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Đảng lãnh đạo hay Đảng cầm quyền không được biến thành “Đảng Nhà nước”. Đảng cầm quyền là Đảng lãnh đạo nhưng Đảng cũng chỉ là thành viên của nhân dân. Đừng nhầm Đảng cầm quyền thành “Đảng nhà nước”, bao biện công việc của nhà nước, tự biến mình như cơ quan nhà nước. Làm như thế tưởng nhanh gọn, nhưng lại lợi bất cập hại. Bao biện làm thay chính là tự tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng.
Cuối năm 1968, Bác đã dặn dò các cán bộ cao cấp ở chiến trường miền Nam ra họp rằng: Nếu Bác không còn có mặt trong ngày thắng lợi, Bác chỉ dặn các cô, các chú hai điều: Một là, thắng lợi là thắng lợi của toàn dân tộc, do toàn dân góp công góp sức, không phải là thắng lợi của riêng ai. Hai là, ngay sau ngày toàn thắng phải thực hành đại xá, tập hợp mọi người Việt Nam trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chỉ trừ rất ít kẻ ngoan cố chống đối cách mạng đến cùng.
Trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Rất tiếc có nhiều việc chúng ta chưa thực hiện đầy đủ lời dặn dò của Bác và cũng chưa hiểu và thực hiện đúng đắn ba vế của mệnh đề “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Nhưng tại những hội nghị Trung ương giữa và cuối khoá V và đặc biệt tại Đại hội VI của Đảng, Đảng ta đã công khai tự phê bình nghiêm khắc, kiên quyết sửa chữa sai lầm, từng bước hình thành và hoàn thiện tư duy chính trị mới nhằm xây dựng một nhà nước “của dân, do dân, vì dân”. Cương lĩnh của Đảng về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị của nước ta trong giai đoạn mới nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”. Trong hệ thống chính trị, Đảng vừa là hạt nhân lãnh đạo vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị. Trong quá trình đổi mới, Đảng đã từng bước xác định vị trí, vai trò và chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể thành viên trong thời kỳ mới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là người đại diện quyền làm chủ của nhân dân, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện phản biện và giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Có nghị quyết của Trung ương Đảng về Mặt trận, dân tộc, tôn giáo; có Luật Mặt trận; có Quy chế làm việc giữa Mặt trận với Chủ tịch Nước, Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ; có quy chế liên kết hợp tác với các bộ ngành liên quan. Tổ chức Mặt trậnở cơ sở đã từng bước xác định được vị trí và vai trò người đại diện của nhân dân. Từ việc bỏ phiếu tín nhiệm một số chức danh ở cơ sở, xây dựng khối đoàn kết nhân dân trong các khu dân cư văn hoá đến việc thực hiện cuộc vận động xoá đói, giảm nghèo, thực hiện quan hệ tương thân, tương ái, hỗ trợ nhau vươn lên làm giàu chính đáng tại các vùng sâu, vùng xa, nơi tập trung nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo.
Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đỉnh cao của việc thực hiện quy chế dân chủ. Làm tốt giám sát và phản biện xã hội là thiết thực phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thời đại mới. Chức năng phản biện đòi hỏi không chỉ sự tập hợp trí tuệ tổng hợp và chuyên ngành của các chuyên gia trên nhiều lĩnh vực, mà còn đòi hỏi sự hiểu biết và nắm sát đời sống thực tế xã hội cùng những biến động muôn hình, muôn vẻ của cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Chức năng phản biện xã hội là đại diện cho lợi ích trước mắt và lâu dài của nhân dân, cho hiện tại và tương lai phát triển của đất nước, của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới. Phản biện vừa phải có độ chính xác khoa học, vừa có tính thực tiễn sâu sắc và phải đạt tới sức thuyết phục cao. Bởi vậy, thực hiện chức năng phản biện đối với những đường lối chính sách lớn của Đảng, những dự án luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy quan trọng và những chương trình dự án lớn về kinh tế xã hội, văn hoá, khoa học, giáo dục không thể chỉ là công việc của Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực và các Hội đồng tư vấn của Mặt trậnmà còn là khả năng và hình thức khai thác và tập hợp mọi nguồn tri thức và nguyện vọng đúng đắn của các tầng lớp nhân dân.
Chức năng phản biện chỉ có giá trị thực tiễn khi thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát xã hội. Công việc giám sát xã hội phải được đặt ra từ cấp Trung ương đến cơ sở. Hệ thống tổ chức Mặt trận các cấp phải có kế hoạch hợp tác chặt chẽ với các tổ chức thành viên ở từng cấp, thực hiện một cơ chế giám sát dân chủ, nghiêm túc, sâu sát và linh hoạt mới có thể theo dõi và tác động đến quá trình thực hiện.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện giữa các tổ chức thành viên và các cá nhân tiêu biểu cho các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện Điều 2 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận nhất định không thể và không bao giờ được phép hạ thấp vai trò chính trị của mình. Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội là khó khăn và phức tạp. Nhưng với cách làm dần, làm từng bước, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tổng kết thực tế thì nhất định Mặt trận sẽ làm đến nơi, đến chốn để xứng đáng là nền tảng chính trị vững chắc của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo ra một hình mẫu mới về quan hệ giữa một đảng duy nhất cầm quyền với hình thái tổ chức Mặt trận tiêu biểu cho trí tuệ và lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân và của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Đỗ Phượng - Đăng Tạp chí Mặt trận

Arrow2 Tác phẩm "Ai làm công tác Mặt trận và làm thế nào để thực hiện đại đoàn kết"
Arrow2 Tác phẩm "Toune'h Den trở về nẻo sáng"
Arrow2 Đảng cầm quyền và Mặt trận dân tộc thống nhất