Title_left HỒ SƠ THÀNH TÍCH Title_right
 
Zoom
 
Hoangthetung
Doanh nhân Hoàng Thế Tùng
Huynh-duc-manh
Doanh nhân Huỳnh Đức Mãnh
Lu-thanh-long
Doanh nhân Lữ Thành Long
Lam-trong-son
Doanh nhân Lâm Trọng Sơn
Leanhphung
Doanh nhân Lê Anh Phụng
Le-dai-tam
Doanh nhân Lê Đại Tâm
Le-hong-phong
Doanh nhân Lê Hồng Phong
No-person-img
Doanh nhân Lê Hữu Hoàng
Tran-kha-nhan DOANH NHÂN TRẦN KHẢ NHẬN
ANH HÙNG ĐẤT THÀNH NAM


Chúng tôi tìm đến căn nhà số 181 Nguyễn Du, TP. Nam Định vào buổi trưa một ngày cuối thu đẹp trời. Nằm đối diện với công viên, lại ngay trong dãy phố chuyên bán hoa nên chúng tôi có cảm giác từ con đường, cửa hiệu đến những con người sinh sống ở nơi đây dường như đẹp hơn, tươi mới hơn thì phải. Chủ nhà - người đàn ông trong trang phục nhẹ nhàng, dáng vẻ nhanh nhẹn, lịch sự ra tiếp chúng tôi. Nếu không biết trước, hẳn chúng tôi không thể tin ông đã ở tuổi 65. Lại càng ngạc nhiên hơn bởi sau bao năm lăn lộn với thương trường, ông vẫn giữ được phong độ, với cách nói chuyện vui vẻ, hóm hỉnh, lôi cuốn người khác. Ông không chỉ được biết đến là người Việt Nam đầu tiên áp dụng mạ dây thép bằng công nghệ điện, ông còn là “linh hồn” của Công ty Cổ phần dây lưới thép Nam Định và là người đã đưa cả công ty thoát khỏi khủng hoảng, tiếp tục đứng lên và không ngừng phát triển. Vâng! Ông chính là Anh hùng lao động Trần Khả Nhận – nguyên Giám đốc Công ty cổ phần Dây lưới thép Nam Định.
Trên gương mặt ông lấp lánh niềm vui xen lẫn tự hào khi nói về gia đình – cuộc sống phía sau của vị Anh hùng. Là một người đàn ông có địa vị trong xã hội được không ít người kính nể, lại càng vinh dự hơn với danh hiệu Anh hùng lao động vừa được Nhà nước trao tặng cuối năm 2005 vừa qua. Nhưng khi lùi về “hậu trường”, ánh hào quang sẽ dần qua đi, tự nhiên tất cả sẽ trở nên vô nghĩa nếu gia đình “trục trặc”. Dường như ông trời thương ông nhiều lắm thì phải bởi ông đã may mắn có một người vợ hiền biết san sẻ cùng chồng nuôi dạy bốn đứa con, hai trai hai gái nên người. Giờ đây, các con ông đều thành đạt cả, nhất là hai cậu con trai đã bảo vệ xong luận án Thạc sỹ tại nước ngoài. Đối với ông, chẳng còn hạnh phúc nào hơn thế. Nhưng để có ngày hôm nay, ông đã phải trải qua bao gian nan, vất vả mà mỗi bước đi như gắn kết với sự thăng trầm của ngành mạ điện Việt Nam. Câu chuyện ông kể đưa chúng tôi quay lại quãng thời gian đã làm nên tên tuổi và sự nghiệp của một con người sống trọn với niềm đam mê, khao khát vươn lên trong bất kỳ hoàn cảnh nào dù khó khăn đến đâu ....
Cách đây 65 năm, trên mảnh đất Nam Định vốn nổi tiếng với nghề dệt lụa, cậu bé Trần Khả Nhận đã “oe oe” cất tiếng khóc chào đời. Năm tháng dần trôi, cậu bé Nhận ngày nào đã trở thành cán bộ kỹ thuật của Công ty cơ khí Quang Trung (Hà Nội) ngay sau khi học xong trung cấp cơ khí Nam Định. Mặc dù còn rất trẻ, lại mới vào làm ở công ty chưa được bao lâu nhưng nhìn vào hiệu quả công việc và cách sống cấp trên tin tưởng, đánh giá chàng thanh niên tên Nhận là một con người có tố chất thông minh, ham học hơn người. Nhận có biệt tài trong việc phát hiện, chỉ ra và chỉnh sửa các chi tiết sai từ bản vẽ một cách nhanh chóng và chính xác. Chẳng thế mà thời gian đó tất cả các bản vẽ của Công ty đều phải thông qua ông kiểm tra kỹ thuật. Trong quá trình đọc bản vẽ, những kiến thức ông được đào tạo không đủ đáp ứng yêu cầu công việc, ông không ngần ngại tìm kiếm các tài liệu để tham khảo, nâng cao kiến thức kỹ thuật. Lúc đó tài liệu hiếm lắm, lại chủ yếu của Nga, ngặt một nỗi không có bản dịch sang tiếng Việt trong khi ông biết rất ít chữ Nga. Không chịu đầu hàng, ông tranh thủ mày mò tìm mua và học tiếng Nga kỹ thuật bằng cách tranh thủ lúc đêm về và vào bất cứ lúc nào rảnh rỗi trong ngày. Không ngờ, chỉ sau một thời gian, ông đã có thể đọc tài liệu kỹ thuật cơ khí từ tiếng Nga một cách dễ dàng.
Sau một thời gian bôn ba nơi đất khách, ông quyết định trở lại quê hương. Dù làm ở đâu, trong cương vị nào ông đều được ghi nhận là một con người có năng lực, ham học hỏi và thực sự cầu tiến. Khi còn ở nhà máy cơ khí Nam Định – với vai trò là cán bộ phụ trách kỹ thuật công nghệ của nhà máy- ông đã từng là kỹ sư chính chỉ huy chế tạo thiết bị đóng mở tại đập Phùng (Hà Tây) góp phần phân lũ cho sông Hồng và thủ đô Hà Nội. Năm 1975, ông trở thành trưởng ban thiết kế công nghiệp tỉnh Nam Định, đứng đầu đơn vị chuyên lo thiết kế các nhà máy, và thiết kế truyền dẫn điện trong địa bàn tỉnh. Từ năm 1981 đến năm 1983 ông giữ vai trò là Phó Giám đốc Liên hiệp xe đạp Hà Nam Ninh. Thời điểm đó, công nghệ mạ ở nước ta còn rất yếu nên cấp trên hy vọng, tin tưởng cử ông cùng một số cán bộ khác sang Đức học mạ và học nghề “giám đốc” trong lĩnh vực này với hy vọng có thể “vực” ngành mạ Việt Nam tiếp tục tiến lên. Là trưởng đoàn thực tập sinh Việt Nam ở Đức trong lĩnh vực này, được đào tạo bài bản và nghiêm túc, hết thời hạn học một năm ông trở về. Đứng trước sự mâu thuẫn giữa một bên là lãnh đạo Tỉnh muốn sát nhập hai đơn vị mạ và sản xuất xe đạp làm một và “tiến cử”ông làm giám đốc vì Nam Định lúc đó nổi tiếng sản xuất xe đạp trong khi lại rất yếu về mạ; một bên là Giám đốc công ty xe đạp lúc đó không muốn đón nhận đơn vị mạ. Chính mâu thuẫn đó vô tình đặt ông vào thế khó xử. Nhưng khi nghe lãnh đạo Tỉnh hỏi về “ý định bản thân”, trong ông bỗng sôi sục dòng máu “4000 năm lịch sử, tự cường người Việt” và thấm nhuần “tinh thần thép của Đức”, ông đã tự nhủ: “ta không thể chết khi trong tay ta đang có kiến thức...”. Quyết theo đuổi đến cùng, ông khảng khái đề nghị: “lãnh đạo cử tôi sang Đức học về làm mạ cho Tỉnh. Nay tôi trở về là để thực hiện mục tiêu đó”. Ông chính thức trở thành Giám đốc Xí nghiệp Mạ. Và từ đây, cuộc đời ông bắt đầu sang trang mới mà mỗi bước đi đều gắn liền với sự thăng trầm của ngành mạ Việt Nam. Giữ vai trò cao nhất của Xí nghiệp trong hoàn cảnh khó khăn của cả ngành:Xí nghiệp mạ ở Hà Nội chủ yếu nhận gia công đang trong tình cảnh lao đao, khốn khó; Xí nghiệp Mạ (Hải Phòng) đã sát nhập vào đơn vị khác....Những tấm gương của các đơn vị bạn khiến ông không khỏi ngậm ngùi. Nhưng ông tin “rồi Mạ Nam Định sẽ như cỗ xe tăng Đức từ từ tiến lên”. Con người ông là vậy, luôn hóm hỉnh, lạc quan ngay trong hoàn cảnh khó khăn nhất.
Kỷ niệm bỗng ùa về, sống dậy trong ông khiến câu chuyện càng trở nên hào hứng. Thời điểm cam go nhất của cơ sở là năm 1986, khi nguồn Niken Sunfat – hoá chất chính cho công nghiệp mạ điện mà chủ yếu phải nhập khẩu trở nên hiếm hoi. Chỉ bằng thiết bị sẵn có của đơn vị và tận dụng “Niken âm cực” đang đầy ắp trong các tổng kho hoá chất Trung ương, Giám đốc Nhận đã tiết kiệm khoản ngoại tệ cho xí nghiệp khi chỉ đạo đội ngũ kỹ thuật tự sản xuất ra loại hoá chất quý hiếm này. Không dừng lại ở đó, ông cùng đồng nghiệp lại tự nghiên cứu chế tạo thiết bị mới sản xuất Niken Sunfat với công suất hàng trăm tấn/năm, cung cấp cho nhu cầu cả nước…Đó cũng là bước khởi đầu cho sự thăng hoa sáng tạo sau này của Giám đốc Nhận. Ông đưa ra ý tưởng chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo mục tiêu: “sản xuất sản phẩm mới nhưng gắn với công nghiệp mạ điện” được coi là bước ngoặt lịch sử đưa xí nghiệp đi lên. Và từ một cơ sở mạ điện gia công, làm ăn “cò con”, luôn sợ hết việc đã chuyển hẳn sang sản xuất dây, lưới thép. Trước khi thực hiện quyết định này, Giám đốc Nhận đã lần mò, tìm hiểu thị trường tiêu thụ từ những phiên chợ quê đến các ngành giao thông, xây dựng, thuỷ lợi trong nước. Khi có đủ những thông số đáng tin cậy mới chính thức đầu tư thiết bị và sản xuất. Nhưng cũng không nóng vội mà tiến hành từ nhỏ đến lớn, tận dụng triệt để những gì đã có.
Một kỷ niệm khiến ông nhớ mãi, khi ấy vào năm 1988, nhà máy còn vô cùng khó khăn. Ông Nhận phải chạy vạy khắp nơi để tìm đối tác liên kết làm ăn, biến ý tưởng sản xuất của mình thành hiện thực. Vốn là dân kỹ sư cơ khí chế tạo, lại từng mấy năm làm trưởng ban thiết kế công nghiệp tỉnh, nên chuyện thiết kế chế tạo với ông chỉ là chuyện nhỏ. Song có lần, ông suýt chết hụt về chuyện thiết kế chế tạo ấy. Và kỷ niệm không bao giờ phai mờ này đã gắn vào đời ông như máu thịt, bởi nó là bài học, là niềm tin cho ông trong những bước đường sau này. Chuyện chẳng là: sản phẩm Mạ điện Nam Định hướng tới là dây thép mạ kẽm. Để có mặt trên thị trường, rất cần có khách hàng tầm cỡ. Giám đốc Nhận chọn Tổng công ty kim khí Việt Nam làm đối tác. Ông hì hục vác 20 kg dây thép mạ lên chào hàng vào một ngày thứ sáu. Lúc này nguồn hàng nhập từ Liên Xô không còn, nên dù chất lượng mạ Nam Định chưa sáng bằng dây nhập ngoại, cũng vẫn được tạm thời chấp nhận. Hợp đồng chính thức sẽ được ký khi đoàn khảo sát Tổng công ty tận mắt chứng kiến dây chuyền mạ của xí nghiệp. Ngày khảo sát được ấn định ngay ngày hôm sau - thứ bảy. Khổ nỗi là số hàng chào chỉ được mạ theo phương pháp thử nghiệm, trên bể mạ rộng chừng 3m và hết sức thủ công. Để “biểu diễn” phương pháp mạ công nghiệp bán tự động đúng như lời ông đã “chào hàng” với Tổng công ty, ông liền tính kế hoãn binh, đề nghị với đồng chí Phó Tổng giám đốc: “xin đoàn khảo sát về vào thứ hai, vừa là đầu tuần, lại tốt ngay”. Đề nghị của ông được chấp nhận. Tuy nhiên trong lòng ông đang nóng lên một nỗi lo: lấy đâu ra dây chuyền bán tự động trong quỹ thời gian hai ngày, ba đêm? Nước đã đến cổ, không nhảy là chìm. Trên đường về, ông Nhận phác sơ hình hài thiết bị bán tự động mạ thép sợi, rồi phát lệnh khẩn cấp triệu tập một số cán bộ, công nhân giỏi vào xí nghiệp và cấm vận họ trong ba ngày, ăn ngủ tại chỗ, để cùng Giám đốc chế tạo thiết bị này. Bốn giờ sáng ngày thứ hai thiết bị đã hòm hòm, chạy thử tạm đạt yêu cầu. Nhưng còn yếu tố tự động mang dáng vẻ công nghệ hiện đại của dây chuyền…? Ông Nhận “nhanh trí” cho đóng một hộp vuông trong lắp vài bóng đèn xanh đỏ, nói đó là hộp điều khiển, chế tạo theo nguyên lý hộp đen. Khi nối điện, mô tơ tải guồng, đèn trên “bảng điều khiển” nhấp nháy sáng. Thực ra bảng này không đóng vai trò gì trong điều khiển mạ. Ngoài ông và vài anh em thân cận, không ai biết tình tiết này. Mười giờ sáng thứ hai, đoàn cán bộ Tổng công ty kim khí về. Sau khi đoàn khảo sát dây chuyền mạ bán tự động tỏ ra ưng ý, đã ký với xí nghiệp hợp đồng đầu tiên bao tiêu 200 tấn dây thép mạ. Có hợp đồng, xí nghiệp có cơ vay vốn đầu tư và ông Nhận đã chỉ đạo chế tạo một thiết bị bán tự động hoàn chỉnh.
Ông nói rằng: “ thương trường phải có lúc buộc người ta sinh mẹo. Việc làm ra bảng điều khiển là nằm trong tầm tay, hiềm vì thời gian quá gấp không kịp mà thôi. Với tôi đó là điều bất đắc dĩ, nay hệ thống của chúng tôi được điều khiển hoàn toàn bằng điện tử. Chất lượng hàng đủ sức thay thế dây nhập ngoại”. Đó là phân xưởng mạ dây thép lớn nhất Việt Nam hiện nay được điều khiển hoàn toàn tự động do chính bàn tay khối óc của anh em trong công ty sáng chế. “Nó là niềm tự hào của toàn thể công ty chúng tôi, nó đánh dấu sự sáng tạo và những bước đi bằng chính nội lực của mình” - Ông Nhận tâm sự - Nhớ có lần, thấy cái lồng quạt bàn nhà ông hoen rỉ, một người hàng xóm mách: mang xuống mạ điện, đảm bảo sau ít phút ông lại có cái rổ bóng loáng, giá rẻ bất ngờ. Nghe nói vậy ông làm theo, không ngờ lại là chuyện thật. Dạo đó, mạ dịch vụ trở thành “phong trào” ở Nam Định. Chỉ cần có một người thân làm việc tại mạ điện là ba cái lặt vặt trong nhà như: phụ tùng xe đạp, ống bô xe máy, lồng quạt… sẽ được mạ tân trang như mới. Giám đốc Trần Khả Nhận nói: “Có thể mạ miễn phí với điều kiện anh em công nhân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn”. Lúc đó, nhiều xí nghiệp mạ bắt đầu gặp trở ngại. Việc làm thiếu, đời sống công nhân khó khăn. Hiện tượng ăn cắp vật tư, sản phẩm là có và rất khó ngăn chặn, dù áp dụng nhiều biện pháp cứng rắn. Rồi ông đã nghĩ ra một cách là: cho phép công nhân mạ tân trang dụng cụ trong nhà bằng thiết bị và nguyên liệu của xí nghiệp. Với mục đích là nhằm hỗ trợ, động viên anh em, lại tránh được hiện tượng mạ trộm, dễ gây hỏng thiết bị. Nhưng ý tứ sâu xa của ông Nhận lại nằm ở chỗ khác “một công đa lợi”: đó là dịp nâng cao tay nghề cho công nhân, sản phẩm mạ sẽ là hàng quảng cáo cho bước sản xuất sắp tới mà ông đang lặng lẽ chuẩn bị.
Sau khi dây chuyền mạ đi vào hoạt động ổn định, ông nghĩ cần phải chuyển hướng sản xuất nhằm đa dạng hoá sản phẩm. Và sản phẩm dệt lưới thép B40 lại loé lên trong đầu ông. Đó là loại hàng rào được dệt bằng sợi thép qua mạ. Trước đây, Mỹ – Ngụy thường rào quanh cứ điểm, kho tàng nhằm tránh bị tấn công bằng súng B40. Làm lưới thép B40 chắc chắn trúng - đó là suy nghĩ của ông. Nhưng tìm đâu ra thiết bị dệt? Nghe nói nhà máy dệt Bình Tây đang chiếm phần lớn thị phần này. Ông khăn gói cùng hai cán bộ giả như thương gia vào Bình Tây học lỏm thiết bị dệt. Vượt qua bao nhiêu km đường đất, ông lần được vào Bình Tây. Đến được nhà máy dệt nhưng đen đủi cho ông vừa đến cạnh máy dệt lưới thép được đúng 3 phút thì có người quen nhận ra ông. Và ông được tế nhị mời về văn phòng tiếp đón ân cần, trọng thị nhưng tịnh không cho cơ hội tiếp cận máy nữa. Trở về, ông cùng các cán bộ mầy mò tự chế tạo chiếc máy dệt lưới thép trên cơ sở 3 phút tham quan máy dệt Bình Tây nhưng thất bại…Vừa dịp đó, phát hiện tại nhà máy Gang thép Thái Nguyên có một máy dệt lưới thép của CHLB Đức nhập về đã từ 7 – 8 năm nhưng chưa dùng, ông xin mua. Với người khác, đó là đồ bỏ đI song với xí nghiệp ông khi ấy lại là cứu cánh. Bằng kinh nghiệm của người kỹ sư đã nhiều lăn lộn trong lĩnh vực cơ khí, từ 3 phút “làm gián điệp” ở Bình Tây, ông cùng anh em công nhân đã tìm tòi và khôi phục, vận hành lại chiếc máy này. Từ đó, trên thị trường xuất hiện lưới thép B40 mang nhãn “ Xí nghiệp mạ điện Nam Định”. Sẵn đầu ra, có tích luỹ, xí nghiệp đầu tư nhập máy mới. Đến nay, xí nghiệp đã dệt ra lưới B40 với mọi chủng loại, kích cỡ, mọi loại khổ rộng hẹp khác nhau. Lưới B40 Nam Định đã có mặt trên hầu hết các thị trường Miền Bắc, thoả mãn nhu cầu dân dụng, xây dựng, làm lồng rọ đá cho các công trình thuỷ lợi, chăn nuôi. Đặc biệt, chất lượng dây thép mạ kẽm đã xuất khẩu được sang thị trường Nhật Bản khoảng gần 1000 tấn/năm. Nhưng lưới thép mạ cũng có tuổi thọ của nó. Trong môi trường nước, một khi han rỉ sẽ phá vỡ công trình. ý tưởng sản xuất dây thép bọc nhựa bất ngờ nảy sinh khi bạn hàng là Công ty Nam Sông Hồng trúng một gói thầu trong dự án gia cố đê sông Hồng bằng vốn vay của ADB. Tổ chức này khuyến cáo dùng loại rọ bằng lưới thép bọc nhựa. Và họ giới thiệu hàng của MARKA FERRY. Đối với mạ Nam Định, mặt hàng này là rất khó khăn vì kỹ thuật đòi hỏi cao, khách hàng mới, tầm quan trọng của mặt hàng cũng mới và tìm đâu ra máy dệt lưới lục giác cỡ lớn vừa sức mua của công ty. Ông nghĩ: Việt Nam là nước có khí hậu không ổn định, thường xuyên bị thiên tai lũ lụt. Cần phải có rọ đá như ở nước ngoài để góp phần phòng chống thiên tai và giảm ngoại tệ cho nhà nước. Lưới thép bọc nhựa Nam Định ra đời đã dần thay thế được hàng nhập ngoại, và chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn của Anh Quốc PS-443. Cùng với dây thép mạ chống rỉ, lưới B40, dây kẽm gai…là những mặt hàng chủ lực mang thương hiệu “Dây lưới thép Nam Định” trong nhiều năm liên tục đưa công ty trở thành một trong những đơn vị đứng đầu ngành công nghiệp của địa phương.
Quá trình phát triển của đơn vị trong 10 năm gắn với sự năng động, sáng tạo không ngừng của tập thể cán bộ, công nhân mà giám đốc Trần Khả Nhận là người chủ xướng, đầu tàu. Đó là mấu chốt để các sản phẩm của doanh nghiệp này ngày càng đa dạng, có uy tín trên thị trường rộng lớn trên cả nước và xuất khẩu. Toàn bộ phân xưởng mạ kẽm dây, lưới thép hiện đại, các khâu sản xuất đều tự động hoàn toàn do xí nghiệp cải tiến thiết bị và tự lắp đặt. Từ tháng4/2003, phân xưởng sản xuất lưới thép bọc nhựa trên thiết bị hiện đại đã đi vào hoạt động. Hơn 200 tấn sản phẩm làm ra đã chuyển vào xây dựng công trình đường Hồ Chí Minh. Đây còn là sản phẩm đặc dụng mà các ngành thuỷ lợi, xây dựng trong ngành quốc phòng đang có nhu cầu lớn. Với niềm đam mê và nhiệt huyết với nghề, gần 20 năm đảm trách cương vị giám đốc, kỹ sư Trần Khả Nhận đã chèo chống đưa một cơ sở khiếm danh trở thành đơn vị Anh hùng. Từ một xí nghiệp doanh thu đạt chưa đầy 5 triệu đồng/năm (1986), đến nay con số đã vượt 75 tỷ đồng/năm, tạo ra sản phẩm gấp gần 500 lần so với trước. Các khoản nộp ngân sách, lợi nhuận sau thuế cũng gấp hàng trăm lần. Lương bình quân đầu người đạt trên 1 triệu đồng/tháng. Các sản phẩm của công ty đã đạt 13 huy chương Vàng tại các Hội chợ hàng công nghiệp Việt Nam, đạt Cúp bạc cho hàng Việt Nam chất lượng cao. Cá nhân ông từng 17 lần nhận bằng lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, được tín nhiệm bầu là Đại biểu quốc hội khoá X, là Đại biểu duy nhất của ngành công nghiệp Nam Định đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Và được nhận dạnh hiệu “Doanh nhân Việt Nam” cùng chân dung Bạch Thái Bưởi. Năm 2005, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Khi công ty chuyển sang cổ phần hoá, dù đã đến tuổi nghỉ hưu, nhưng ngay tại Đại hội cổ đông lần thứ hai năm 2002, Giám đốc Trần Khả Nhận vẫn được 100% cổ đông tín nhiệm bầu lại làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng uỷ Công ty cổ phần Dây lưới thép Nam Định. Và dù trong hoàn cảnh nào, người Giám đốc ấy vẫn giữ vững vị trí chủ đạo, giương cao ngọn cờ tiến lên phía trước. Trong con người ông luôn tràn đầy bao ý tưởng dựng xây và niềm tin tưởng, lạc quan hiếm có. Ông vẫn hàng ngày trăn trở tìm hướng đi mới cho Công ty với dự định tiếp tục phát triển, mở rộng thị trường đưa các sản phẩm Dây lưới thép Nam Định tiến xa hơn. Thời gian không đợi con người, chỉ có điều dường như mong muốn và thực tế bao giờ cũng có khoảng cách, nhất là với một người nhạy cảm như ông. Giá mà…! Bước sang ngưỡng tuổi 65, ông quyết định lui lại hậu trường để lại chỗ cho lớp trẻ tiếp tục con đường mà bao năm qua ông đã vất vả gây dựng lên. Hôm nay gặp ông giữa bộn bề cuộc sống đời thường, tinh thần quật cường của vị Anh hùng ấy đã vô tình tiếp thêm cho lớp trẻ chúng tôi nghị lực để tiếp tục sống có ích, tiếp tục đi theo con đường đã chọn thêm nhiều niềm tin và lạc quan hơn.

Hà Hải - Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

Arrow2 Anh hùng đất Thành Nam